










Zirconia, lithium disilicate, sứ ép, sứ đắp và feldspathic: so sánh độ bền uốn, độ trong, chỉ định lâm sàng và cách chọn vật liệu cho từng ca phục hình răng sứ. Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên nha khoa, dựa trên các dòng vật liệu chính hãng đang được chế tác tại Khai Nguyên Dental Lab.











Mục đích của bài viết này là đưa ra các chỉ định phục hình bằng xi măng gắn và cung cấp quy trình từng bước chính xác. Các nguyên tắc sửa soạn mới dựa trên những cân nhắc về mặt hình thái học (đường profile tối đa và độ nghiêng của múi), và cấu trúc (độ lõm của ngà răng và độ lồi của men răng). Trong bài viết này, chúng tôi cũng thảo luận về các concept sửa soạn trước đây, chúng không được thiết kế hoàn toàn cho việc phục hình bằng chất gắn và ít phù hợp cho các quy trình kết dính.
Các nguyên tắc thông thường trước đây đề xuất một khoang có thành phân kỳ từ 6 đến 10 độ, các góc tròn bên trong, men có các cạnh sắc và không vát, các thành nhẵn được xác định rõ và phẳng. Đường chuyển tiếp phục hình – răng không trùng với các điểm tiếp xúc khớp cắn. Các thông số sau ảnh hưởng và dẫn dắt thiết kế:
– Độ dày của các thành còn lại phải ≥ 2,0 mm đối với răng sống, (các bài báo mới nhất báo cáo giá trị là 1 mm) và ≥ 3,0 mm đối với răng được điều trị nội nha.
– Eo mặt nhai (occlusal isthmus) phải ≥ 2 mm cho composite và lithium disilicate glass-ceramic.
– Có hoặc không có các đường hoàn tất, sự hiện diện của hộp bên được đánh giá trên ba mặt phẳng không gian.
– Độ dày của vật liệu che phủ múi phải ≥ 1 đến 1,5 mm đối với composite và lithium disilicat (ép hoặc CAD / CAM) và ≥ 2 đến 2,5 mm đối với gốm felspathic và gốm thủy tinh gia cường leucit.
– Độ chìa ở mặt bên phải ≤ 2 mm. Nguy cơ đứt gãy của đường hoàn tất sẽ tăng lên khi độ chìa quá lớn
Thiết kế xoang mới (Morphology Driven Preparation Technique) (Hình 1 and 2)

Các nguyên tắc của xoang truyền thống được thiết kế để gắn phục hình gián tiếp không kết dính. Chúng được đặc trưng bởi một thiết kế giúp đảm bảo lưu bằng cách tạo bờ vai, khe mặt nhai và cuối cùng là chốt. Chúng có thể làm lộ ngà răng lành với sự mất mát đáng kể của mô cấu trúc (Hình 3). Ngoài ra sửa soạn truyền thống không xem xét hình thái học và giải phẫu thực sự trong thân răng. Hơn nữa, không có dữ liệu nào được báo cáo về vị trí chính xác của bờ vai, khiến các bác sĩ lâm sàng phải mài chúng theo kinh nghiệm. Hơn nữa, thiết kế truyền thống không hoàn toàn phù hợp với xi măng kết dính vì sự hiện diện của các eo, bờ vai và các góc tròn. Ngoài ra, chiều rộng của bờ vai và bản thân onlay có vẻ quá mức và dẫn đến mức độ dán composite không phù hợp. Các nguyên tắc của mDPT (Hình 4) nhằm đạt được những cải tiến sau:
– Giảm thiểu đến mức tối đa việc mất mô răng khỏe mạnh bằng cách giảm diện tích tiếp xúc với ngà răng.
– Hướng dẫn mài thấp bề mặt khớp cắn bằng các vết cắt sâu hoặc tốt hơn là với khóa silicone để kiểm soát độ sâu.
– Để giảm chiều rộng của ĐHT bờ vai khi cần thiết.
– Để xác định một thiết kế ĐHT có thể cải thiện chất lượng của độ bám dính, tối ưu hóa việc cắt các lăng trụ men và tạo ra bề mặt men lớn hơn.
– Để cải thiện độ trơn tru khi đưa phục hồi lên răng trong quá trình gắn.
– Cải thiện thẩm mỹ vùng chuyển tiếp giữa răng và phục hình. Theo trình tự thời gian, trình tự mài là hộp ở vùng tiếp cận, hạ khớp cắn, và xác định các ĐHT trên các thành trục. Định nghĩa về ĐHT khác nhau ở răng hàm trên và hàm dưới. Thiết kế của ĐHT thay đổi tùy theo mô khỏe mạnh còn lại, vị trí ĐHT, độ nghiêng và hình thái độ dốc của múi, và đường vòng lớn nhất của răng. Việc chuẩn bị cuối cùng được hướng dẫn bởi hình thái giải phẫu và cấu trúc của răng.

Các nguyên tắc của MDPT cho răng cối nhỏ và cối lớn (Hình 5 đến Hình 9)
1) Chuẩn bị khớp đối đầu (butt-joint) trong hộp (độ dày lý tưởng: 1 đến 1,2 mm, tối đa 1,5 mm) và các góc bên được làm tròn bằng một mũi khoan kim cương độ nhám vừa phải, hình nón cụt (đường kính 14) và dùng mũi mịn để hoàn thiện. Nhiều trường hợp cần hạ thấp chiều cao của hộp nhằm thu được phục hồi gián tiếp có độ dày đều, vừa đảm bảo khả năng chống chịu đồng thời cho phép biến đổi hoàn toàn chất kết dính quang trùng hợp và vật liệu nhựa composite được sử dụng để gắn.
2) Các thành phân kỳ từ 6 đến 10 độ, với các rìa chuyển tiếp sắc, các góc bên trong được làm tròn. Các thành trục còn lại đòi hỏi phải mài sắc ở vùng mặt nhai, vì bản thân việc tạo ra các mặt vát ở khớp cắn sẽ dễ dẫn đến nguy cơ gãy ĐHT phục hồi ở vùng này.
3) Hạ mặt nhai theo hướng về phía trũng giữa và theo tỷ lệ giữa các múi, sử dụng mũi kim cương hình nón cụt (đường kính 14 và 18). Mức độ hạ thấp liên quan đến độ bền của vật liệu phục hồi (1,0 mm đến 2,0 mm được khuyến nghị). Các rãnh mặt nhai là không cần thiết; thực sự, chúng nên tránh. Bạn nên thực hiện hạ khớp cắn theo độ sâu của rãnh hướng dẫn (được thực hiện bằng mũi khoan lúc ban đầu) hoặc khi có thể thì mài theo khóa silicone.
4a) Mài sửa soạn thành trục tạo mặt phẳng nghiêng (tạo hollow chamfer). Theo hướng gần xa và ngoài trong, một “hollow chamfer” hoặc vát lõm phải được tạo bằng các mũi vát hình trụ, chỉ sử dụng phần đầu của mũi khoan. Thiết kế này được chỉ định cho các múi có đường chuyển tiếp phục hình nằm phía trên đường vòng lớn nhất. Điều này xảy ra thường xuyên hơn ở thành ngoài và trong của RCN và RCL hàm trên, và thành ngoài của RCN và RCL hàm dưới. Việc chuẩn bị ĐHT kiểu này cho phép:
– bảo tồn tối đa mô khỏe mạnh;
– gia tăng về mặt hình học của diện tích men có thể sử dụng được cho các quy trình kết dính mà không để lộ các vùng ngà;
– hình dạng ĐHT thuận lợi hơn cho sự bám dính thông qua việc cắt các lăng trụ men gần như vuông góc với trục dọc của chúng (không giống như việc tạo các mép sắc, điều này sẽ tạo một vết cắt trên lăng trụ song song với trục dài của chúng) (Hình 10);
– dịch chuyển về phía chóp của đường kết thúc (dọc theo mặt phẳng nghiêng), với việc giảm chênh lệch độ cao giữa các múi và đáy của hộp, thông qua việc tạo ra các “đường trượt” cong không có góc. Bắt đầu từ ĐHT vùng cổ của hộp, một đường cong tiếp tục trên thành trục phải được tạo ra;
– quá trình chuyển tiếp dần dần giữa các ĐHT và phục hồi để có được sự hòa trộn tốt hơn, tính thẩm mỹ và sự chuyển màu phục hồi.
4b) Sửa soạn thành trục, butt-joint. Trong một số trường hợp, khi rìa của phục hình ở về phía chóp so với đường vòng lớn nhất do mất mô đáng kể, nên chuẩn bị một ĐHT bờ vai sắc (với các đặc điểm được đề cập trong bước 1). Sự xuất hiện này thường xuyên nhất ở mặt trong của răng cối lớn và răng cối nhỏ hàm dưới do hình dạng khác nhau của bề mặt (Hình 9).


Cơ sở lý luận của thiết kế khoang được mô tả ở trên là phân tích hình thái của các răng sau, với một số khác biệt giữa răng hàm trên và răng hàm dưới, và với những cân nhắc về hình học và cấu trúc chứng minh cho việc sử dụng nó.
Răng cối lớn và răng cối nhỏ hàm trên (Hình 10)
Cân nhắc về mặt hình học: các biểu diễn đồ họa được vẽ từ marseillier (Hình 11) cho thấy rằng các thành phần ở hàm trên thì nghiêng và phân kỳ theo hướng cổ răng, với đường vòng lớn nhất nằm ở 1/3 cổ. Khi yêu cầu che phủ múi, một ĐHT bờ vai sắc chắc chắn sẽ tạo ra mặt cắt xiên của lăng trụ men và sự phục hồi ĐHT không đầy đủ, trong khi việc che phủ múi và sửa soạn mối nối đối đầu sẽ dẫn đến mất đáng kể mô lành liên quan đến tiếp xúc ngà. Rõ ràng là, bất cứ khi nào đường chuyển tiếp ở phía trên ĐVLN, một đường cắt men có dạng nghiêng (vát) nên được chỉ định bởi vì nó phù hợp với độ nghiêng của các thành trục từ hình học hoặc sinh học (lăng trụ men cắt ngang với trục dài).
Ở vùng tiếp cận, các thành hội tụ về phía chóp và đường vòng lớn nhất nằm ở phần ba khớp cắn. Vì vậy, thiết kế ĐHT chỉ có thể là một bờ vai tròn với các lề sắc. Bất kỳ mặt phẳng nghiêng hoặc vát nào đều bị chống chỉ định vì nó sẽ làm lệch rìa theo chiều dọc, do đó làm giảm độ dày men cổ.
Xem xét cấu trúc (Hình 13): từ phân tích cấu trúc ba chiều của răng người có thể quan sát thấy rằng các bề mặt lồi của men răng khớp với mặt lõm và sắc của ngà (đường cong sigmoid). Độ lõm của bề mặt ngà răng đặc biệt rõ ràng và nằm ở vị trí 1/3 giữa và phía trên ĐVLN. Do đó, rõ ràng là, tiêu chuẩn vàng cho thiết kế khoang là thiết kế ĐHT với một mặt phẳng nghiêng lõm vát cắt bớt phần lồi của men răng, theo sát vết lõm của ngà răng mà không để lộ ra ngoài.

RCL và RCN hàm dưới (Hình 14)
Những lưu ý tương tự cũng nên áp dụng cho các răng sau hàm dưới. Cân nhắc về hình học (Hình 15): Các bề mặt ngoài nghiêng, hội tụ về mặt nhai, với một đường vòng lớn nhất nằm ở 1/3 cổ. Các bề mặt phía trong, thẳng đứng hơn, với các đường vòng lớn nhất ở 1/3 trên. Vì lý do này, ĐHT mặt ngoài thường là đường vát lõm, ngoại trừ những trường hợp mất mô đáng kể đã phá hủy thành tới 1/3 cổ. ĐHT ở mặt trong thường là bờ sắc, bởi vì sự mất mô thường liên quan đến khớp cắn và một phần ba giữa của múi, với các ĐHT nằm dưới đường vòng lớn nhất. Cân nhắc về cấu trúc (Hình 15): Ngay cả từ quan điểm cấu trúc, độ lồi của men răng với độ lõm của ngà răng 1/3 giữa và 1/3 trên phía mặt ngoài cần được lưu ý. Ở mặt trong, hình thái men hơi lồi (trung bình) tương ứng với bề mặt ngà răng thẳng hơn. Do đó, dựa trên những cân nhắc này, việc lựa chọn ĐHT bờ vai là hợp lý ở mặt trong.

Phục hình kết dính (thông thường và mới phát triển)
Các nguyên tắc chuẩn bị mới được liệt kê ở trên có thể được áp dụng hiệu quả cho tất cả các loại phục hình kết dính truyền thống (inlay, onlay, overlay) và giúp xác định một tập hợp các phục hình mới được phát triển (additional overlay, occlusal-veneer, overlay-veneer, long-wrap overlay, adhesive crown).


Nguồn: Veneziani M. (2017). Posterior indirect adhesive restorations: updated indications and the Morphology Driven Preparation Technique. The international journal of esthetic dentistry, 12(2), 204–230.
Mục đích của bài viết này là đưa ra các chỉ định phục hình bằng xi măng gắn và cung cấp quy trình từng bước chính xác. Các nguyên tắc sửa soạn mới dựa trên những cân nhắc về mặt hình thái học (đường profile tối đa và độ nghiêng của múi), và cấu trúc (độ lõm của ngà răng và độ lồi của men răng). Trong bài viết này, chúng tôi cũng thảo luận về các concept sửa soạn trước đây, chúng không được thiết kế hoàn toàn cho việc phục hình bằng chất gắn và ít phù hợp cho các quy trình kết dính.
Hình dạng khoang mới bao gồm các mặt nghiêng liên tục từ đường chuyển tiếp (hollow chamfer hoặc concave bevel) trên các thành trục, bất cứ khi nào chúng nằm ở phía trên đường vòng lớn nhất. Sửa soạn butt-joint dày 1.2mm ở mặt tiếp cận và trên các thành khi đường hoàn tất nằm dưới đường vòng lớn nhất. Bề mặt khớp cắn được sửa soạn theo giải phẫu, không có khe và góc cạnh. Đề xuất của tác giả là tránh chuẩn bị ĐHT bờ vai xung quanh múi, rãnh nằm trên khớp cắn và chốt vì chúng ít bảo tồn hơn, không tương thích với quy trình kết dính và liên quan đến việc lộ ngà răng không cần thiết.
Các ưu điểm lâm sàng của sửa soạn “giải phẫu” mới này là
Các nguyên tắc mài sửa soạn này có thể được sử dụng hiệu quả cho tất cả các phục hình bằng xi măng kết dính, cả theo các khái niệm truyền thống (inlay, onlay, overlay) và các concept mới (additional overlay, occlusalveneer, overlay-veneer, long-wrap overlay, adhesive crown). Do đó, sự cân bằng giữa phục hồi và răng được tạo ra, được đặc trưng bởi một cách tiếp cận bảo tồn hơn.
Trong nha khoa phục hồi hiện đại, sự phát triển của các quy trình gắn đã dẫn đến một cuộc cách mạng quan trọng. Tương tự như vậy, sự phát triển của vật liệu phục hồi và hệ thống chất dán đã ảnh hưởng đến cách tiếp cận phục hồi răng sau, làm thay đổi đáng kể kế hoạch điều trị. Nhu cầu thực hiện phục hình bằng chất kết dính của các răng sau không chỉ liên quan đến mục đích thẩm mỹ mà còn liên quan đến các nguyên tắc kinh tế – sinh học, cũng như khả năng tăng cường cơ sinh học của cấu trúc răng còn lại.
Vật liệu composite microhybrid và hạt nano là những vật liệu thường được đề xuất cho tất cả các loại xoang ở răng sau. Tuy nhiên, các vấn đề kỹ thuật của vật liệu composite vẫn chưa được giải quyết là co rút và bám dính với ngà răng, và các vấn đề lâm sàng liên quan đến khả năng của bác sĩ trong việc cô lập và dán, cũng như thiết lập lại hình thái ban đầu của răng. Những vấn đề này đặc biệt khó khăn khi phục hình trên diện rộng và cần phải bao phủ một hoặc nhiều chóp. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của các kỹ thuật bán trực tiếp và gián tiếp, cho phép trùng hợp hoàn toàn phục hình composite trước các quy trình dán. Gần đây, phục hồi thẩm mỹ và phục hồi răng sau và toàn bộ cung răng, đã tạo ra một mô hình mới cân bằng giữa nha khoa “phục hồi” và phục hình răng.
Theo Phân loại Trường học Geneva năm 1994, năm loại nhựa composite có thể được sử dụng cho các răng sau với các kỹ thuật khác nhau: trực tiếp, bán trực tiếp (trong và ngoài hàm) và gián tiếp. Các tiêu chí hướng dẫn bác sĩ lâm sàng trong việc lựa chọn vật liệu và kỹ thuật có thể được chia thành các thông số chung và thông số cục bộ. Các thông số chung bao gồm tuổi của bệnh nhân, vệ sinh răng miệng, động lực, đánh giá nguy cơ sâu răng, thói quen ăn uống, hoạt động chức năng, hình thái học và nguồn tài chính; các thông số cục bộ bao gồm hình dạng xoang, độ dày của các thành còn lại, vị trí của ĐHT, sự hiện diện của tổn thương cổ răng, sự hiện diện của vết nứt, vị trí của răng, đánh giá các yếu tố trong chức năng tiền thẩm mỹ và sự hiện diện của bệnh tủy răng hoặc tổn thương nha chu.
Các chỉ định hiện tại cho phục hình bằng xi măng kết dính
Kỹ thuật trực tiếp thường được chỉ định trong các xoang loại I và II với xoang vừa và nhỏ còn men ở cổ răng. Trong những tình huống lâm sàng này, lựa chọn đầu tiên là kỹ thuật trực tiếp, cho phép tạo ra kết quả chất lượng cao, có thể đoán trước và có thể lặp lại với cách tiếp cận bảo tồn và tuổi thọ lâu dài. Những hạn chế của các kỹ thuật trực tiếp, được chỉ ra trong tài liệu giữa những năm 90, đã được xem xét và thảo luận trong nhiều nghiên cứu được xuất bản vào những năm 2000, từ đó có thể suy ra rằng các kỹ thuật trực tiếp sẽ có hiệu quả ngay cả trong trường hợp che phủ một phần múi, thu được một kết quả lâm sàng tương tự như các kỹ thuật gián tiếp. Hơn nữa, việc thiếu men cổ răng đơn thuần sẽ không còn là chỉ định cho kỹ thuật gián tiếp.
Tuy nhiên, kỹ thuật thực hiện trực tiếp trên răng bị mất nhiều mô cứng cho thấy một số vấn đề lâm sàng: chống mòn hàm dưới; kiểm soát ứng suất co; có thể quá mẫn cảm sau quy trình; khả năng dự đoán về độ bám dính với ngà răng; khó phục hồi hình thái, đặc biệt là bề mặt khớp cắn, các điểm tiếp xúc và hình dạng phồng của răng. Do đó, trong các xoang lớn cần tái tạo múi răng, sẽ thuận lợi hơn về mặt lâm sàng nếu sử dụng phục hồi gắn kết bằng xi măng. “Phục hồi gắn gián tiếp” được định nghĩa là phục hồi một phần mão răng được làm bằng composite hoặc sứ, phải được đặt một cách thụ động và được kết dính trong một khoang đặc trưng bởi các đặc điểm cụ thể. Mục đích của bài viết này là xác định các tiêu chí cho một thiết kế khoang mới cho các phục hình gắn, và phân tích các loại phục hình khác nhau, so sánh các hình dạng khoang theo khái niệm thông thường và mới.
Chỉ định hiện tại cho việc phục hình gắn bằng xi măng có thể được tóm tắt như sau:
Những chỉ định này được củng cố bởi một số yếu tố khác, bao gồm sự hiện diện của men vùng cổ với số lượng ít (có ít hơn 1mm chiều cao và 0,5 mm chiều rộng), hoặc thậm chí không có; lõm ở vùng cổ; sự cần thiết của việc thực hiện nhiều phục hình ở nhiều góc phần tư với việc điều chỉnh toàn bộ khớp cắn; và nhu cầu thiết lập lại hoặc tăng kích thước dọc. Ưu điểm của phục hình bằng xi măng kết dính so với kỹ thuật trực tiếp bao gồm việc tạo ra cấu trúc bề mặt khớp cắn lý tưởng, với khả năng kiểm soát tuyệt vời các điểm tiếp xúc và emergence profile, và khả năng đánh giá khớp cắn bằng giá khớp. Thêm nữa, kỹ thuật này làm giảm mạnh sự co khi trùng hợp, cải thiện việc làm kín ĐHT. Sự co ngót đóng rắn duy nhất còn lại là trong lớp xi măng nhựa mỏng. Xử lý quang nhiệt (130 ° C trong 7 phút) cải thiện mức độ chuyển đổi của composite và các đặc tính hóa lý của quá trình phục hồi. Một lợi ích nữa là có thể sử dụng các vật liệu ceramic như glass-ceramics gia cố lithium disilicate.
Theo kinh nghiệm của tác giả (từ năm 1994) và y văn, trình tự của các bước là:
Vì phục hình gián tiếp được chỉ định trong các hốc rộng mất đáng kể mô cứng, nên độ dày của các thành còn lại ảnh hưởng đến quyết định duy trì thành hay không, đặc biệt là vì các thành thường bị cắt (undercut) và cần được phục hồi thích hợp (buildup hoặc block-out). Trước khi build-up cần phải mài bớt các mô không được nâng đỡ nên cần đánh giá các thành, nhờ đó bác sĩ lâm sàng có thể tránh để lộ ngà răng không lai sau khi sửa soạn.
Hạ mặt nhai phụ thuộc vào bốn điểm:
1. độ dày tối thiểu của vật liệu (composite hoặc lithium disilicate) cần ít nhất từ 1,0 đến 2 mm.
2. Số lượng men không được nâng đỡ bởi lớp ngà bên dưới. Mặt răng phải được hạ bớt cho đến khi có đủ lượng ngà răng để nâng đỡ men răng.
3. Độ dày lớp men.
4. Tầm quan trọng của biến dạng khớp cắn trong quá trình ăn nhai.
Sau khi hạ khớp cắn, build-up phải được thực hiện vì những lý do sau:
– Tuân theo nguyên tắc cơ bản của IDS. IDS đã cho thấy độ bền của liên kết microtensile được cải thiện so với phương pháp delayed dentin sealing (DDS).
– Để lấp đầy các đường cắt chắc chắn sẽ hình thành trong quá trình loại bỏ sâu răng.
– Để cung cấp một hình dạng chính xác của khoang.
– Để tạo ra độ dày vật liệu phục hồi tối ưu.
Hơn nữa, có thể gắn xi măng mà không cần gây tê vì ngà răng lộ ra ngoài đã được lai ghép và bao phủ bởi một lớp composite trước.
Vật liệu được lựa chọn đầu tiên cho việc build-up là composite lai gia cố nhiều hạt độn nhỏ được sử dụng với kỹ thuật dual-bonding biến đổi. Khi có ít khoảng phục hình, có thể build-up với 1 lớp composite lỏng. Trong trường hợp ĐHT phía cổ nằm sâu không vi phạm khoảng sinh học, nên đưa đường hoàn tất lên phía trên bằng cách dùng 1 lớp composite lỏng (dày 1 đến 1,5 mm). Khi vị trí của ĐHT vùng cổ không cho phép cách ly bằng đê cao su, hoặc có sự vi phạm về khoảng sinh học, thì phương pháp phẫu thuật là cần thiết.
(Còn nữa)
Nguồn: Veneziani M. (2017). Posterior indirect adhesive restorations: updated indications and the Morphology Driven Preparation Technique. The international journal of esthetic dentistry, 12(2), 204–230.