GC Initial LiSi Press là gì
GC Initial LiSi Press là thỏi sứ lithium disilicate ép của GC (Nhật Bản), nằm trong hệ GC Initial mà nhiều kỹ thuật viên đã quen qua dòng sứ đắp. Điểm khác của nó so với các thỏi lithium disilicate thông thường là công nghệ HDM (High Density Micronization): thay vì những tinh thể kích thước lớn, các vi tinh thể lithium disilicate được phân tán đều và lấp đầy toàn bộ ma trận thủy tinh.
Theo số liệu GC công bố (thử nghiệm nội bộ theo ISO 6872:2015), độ bền uốn hai trục đạt 508 MPa. Trong cùng thử nghiệm, một thỏi lithium disilicate ép thông thường đạt 442 MPa. Độ hòa tan hóa học chỉ bằng khoảng 1/5 (5,4 so với 24,2 µg/cm²).
Theo GC, cấu trúc mịn còn mang lại hai lợi ích thiết thực hơn con số độ bền. Bề mặt đánh bóng nhanh sau khi chỉnh khớp tại ghế, và răng đối diện ít bị mài mòn.
Bốn mức độ trong
LiSi Press có bốn nhóm thỏi, chọn theo độ dày phục hình và màu cùi răng hơn là theo màu đích:
- HT (độ trong cao): thay thế men răng, cho veneer và inlay/onlay trên cùi màu tự nhiên. Có cả màu tẩy trắng (EXW, BLE) và các màu men E57–E60.
- MT (độ trong trung bình): dải màu rộng nhất (B00 tới D2), dùng cho phần lớn veneer, mão và cầu.
- LT (độ trong thấp): bốn nhóm A, B, C, D, cho mão và cầu cần độ sáng ổn định.
- MO (đục vừa): MO-0, MO-1, MO-2, để che cùi đổi màu. Trong brochure của GC, MO được dùng để che răng nhiễm màu tetracycline nặng.
Màu của LiSi ổn định sau nhiều lần nung, nên nếu lần thử đầu cần chỉnh màu, labo có thể stain và nung thêm mà không làm lệch nền màu của phục hình.
Chỉ định
GC giới thiệu LiSi Press cho veneer siêu mỏng, inlay, onlay và overlay, mão đơn lẻ vùng răng trước và răng sau, cầu ngắn và phục hình trên implant.
Brochure của GC chỉ ghi “cầu ngắn”. Khai Nguyên làm cầu LiSi Press tối đa 3 đơn vị, tới răng tiền cối thứ hai, giống giới hạn của IPS e.max Press. Với cầu răng cối, hoặc bệnh nhân nghiến răng nặng mà không mang máng, bác sĩ nên chuyển sang zirconia; xem bảng so sánh vật liệu răng sứ.
Gắn phục hình
Theo hướng dẫn gắn của GC:
- Veneer: chỉ dán dính, bằng composite dán lưỡng trùng hợp (hãng đề xuất G-CEM LinkForce, có paste thử màu để chọn màu composite trước khi dán).
- Inlay và onlay: dán dính; chỉ khi sửa soạn có lưu giữ mới dùng được xi măng tự dính hoặc glass ionomer biến tính nhựa.
- Mão và cầu: dán dính, xi măng tự dính hoặc glass ionomer biến tính nhựa, tuỳ lựa chọn của bác sĩ.
Với ca thẩm mỹ cao, bước thử màu composite trước khi dán đáng giá hơn mọi khác biệt giữa các hãng sứ, vì trên veneer mỏng, màu composite là một phần của màu cuối cùng.
Khai Nguyên dùng LiSi Press cho ca nào
Chúng tôi thường chọn LiSi Press cho mão nguyên khối vùng răng tiền cối và cho inlay/onlay, nơi bề mặt đánh bóng nhanh và độ khít sát bờ có giá trị nhất. LiSi cũng hợp với ca veneer nhiều đơn vị cần độ trong đồng đều.
Thời gian gia công: mão nguyên khối stain và glaze mất 2,5 ngày làm việc với 1–3 đơn vị, tới 4 ngày với ca trên 12 đơn vị. Ca cắt lưng, đắp sứ GC Initial LiSi ở rìa cắn, mất 3–5 ngày.
Nếu bác sĩ đang quen hệ màu của một hãng khác, chúng tôi khuyên giữ hệ đó. Sự nhất quán giữa bảng so màu tại ghế và thỏi sứ tại labo quan trọng hơn khác biệt kỹ thuật giữa ba dòng. So sánh đầy đủ có trong bài so sánh IPS e.max Press, GC LiSi Press và Shofu Vintage LD.
Ca thực tế tại Khai Nguyên
Bác sĩ muốn trao đổi về một ca cụ thể, xin liên hệ Khai Nguyên hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng.
Số liệu kỹ thuật lấy từ brochure GC Initial LiSi Press của GC (tải ở mục tài liệu bên dưới); các so sánh độ bền, độ hòa tan là dữ liệu nội bộ của hãng. Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên tham khảo. Khai Nguyên Dental Lab chỉ chế tác phục hình theo chỉ định chuyên môn và không bán trực tiếp cho bệnh nhân.