Combo Phục hình cố định mão lẻ zirconia trên khung cùi titan CAD/CAM
Khai Nguyên Dental Laboratory

Combo Phục hình cố định mão lẻ zirconia trên khung cùi titan CAD/CAM

Mão zirconia trên abutment titan cá nhân hoá (khung cùi titan CAD/CAM) cho phục hình đơn lẻ trên implant. Abutment được thiết kế theo vị trí implant và đường viền nướu của từng ca, mão zirconia gắn xi măng lên abutment. Thời gian tại labo 3–4,5 ngày làm việc tuỳ số đơn vị.

Khi nào chọn abutment titan cá nhân hoá

Abutment titan cá nhân hoá được thiết kế và phay CAD/CAM riêng cho từng implant, rồi mão zirconia được làm trên đó. So với abutment đúc sẵn, lợi ích nằm ở ba điểm:

  • Biên dạng thoát nướu đúng hình thể răng. Abutment đúc sẵn có tiết diện tròn, trong khi cổ răng thật không tròn. Abutment cá nhân hoá lõm nhẹ sát vai implant để tạo chỗ cho mô, rồi nở dần theo đúng tiết diện răng cần tái tạo.
  • Bờ đặt được theo ý. Bờ có thể nông ở mặt trong và sâu hơn ở mặt ngoài; bờ nông giúp kiểm soát xi măng dư nếu mão gắn xi măng.
  • Giữ được chiều cao khi khoảng liên hàm thấp, thay vì phải mài bớt abutment đúc sẵn.

Titan là vật liệu abutment bền nhất, dung nạp mô tốt, và là lựa chọn mặc định cho răng sau và ca chịu lực lớn.

Ở vùng răng trước nướu mỏng, nơi ánh xám của titan có thể lộ qua, nên cân nhắc zirconia dán trên Ti-base. Ở răng sau có trục tốt, nướu dày, abutment đúc sẵn cho kết quả tương đương với chi phí thấp hơn. Phân tích đầy đủ có trong bài chọn abutment implant: tuỳ chỉnh hay đúc sẵn.

Mão zirconia trên abutment titan

Mão được gắn xi măng lên abutment. Vì bờ abutment cá nhân hoá đặt được ngang hoặc trên nướu ở mặt trong, xi măng dư dễ kiểm soát hơn so với abutment đúc sẵn.

Vật liệu mão chọn theo vị trí: zirconia độ bền cao cho răng hàm, zirconia đa lớp cho vùng thẩm mỹ; xem bảng so sánh vật liệu răng sứ. Với bệnh nhân nghiến răng, xin ghi rõ trên phiếu.

Dữ liệu bác sĩ cần gửi

  • File scan trong miệng có gắn scan body đúng hệ implant (STL, PLY hoặc DCM), scan hàm đối và khớp cắn; hoặc dấu mức implant kèm analog.
  • Hệ implant, dòng và đường kính kết nối, ghi chính xác.
  • Ảnh biên dạng thoát nướu ngay sau khi tháo trụ lành thương; độ sâu vai implant so với viền nướu mặt ngoài.
  • Màu, ảnh so màu và ghi chú nghiến răng.

Quy trình tại labo và thời gian

  1. Kiểm tra file trong ca làm việc kế tiếp; nếu thiếu dữ liệu, bác sĩ nhận ảnh đánh dấu vùng cần bổ sung.
  2. Thiết kế abutment theo vị trí implant và đường viền nướu, rồi thiết kế mão trên abutment.
  3. Phay abutment titan, phay và thiêu kết mão zirconia, hoàn thiện màu.
  4. Kiểm tra chất lượng lần cuối (khít sát, tiếp xúc, màu) trước khi giao.

Mão trên implant mất 3 ngày làm việc với 1–3 đơn vị, tới 4,5 ngày với ca trên 12 đơn vị, tính từ khi file được xác nhận đạt. Bảo hành theo chính sách bảo hành chung của Khai Nguyên (6 tháng – 15 năm tuỳ vật liệu). Các lựa chọn khác cho phục hình trên implant có ở trang cầu mão implant.

Bác sĩ muốn trao đổi về một ca cụ thể, xin liên hệ Khai Nguyên hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng.

Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên tham khảo. Khai Nguyên Dental Lab chỉ chế tác phục hình theo chỉ định chuyên môn và không bán trực tiếp cho bệnh nhân.

Độ sâu bờ abutment và xi măng dư: nghiên cứu nói gì

Abutment cá nhân hoá cho phép đặt bờ ngang hoặc hơi dưới nướu để dễ gắn mão và vệ sinh. Vì sao bờ nông quan trọng:

Nghiên cứuThiết kếKết quả chính
Linkevicius và cs., 2011Mô hình in vitro, bờ từ 1 mm trên nướu đến 3 mm dưới nướuLượng xi măng còn sót sau khi làm sạch tăng dần khi bờ càng nằm sâu dưới nướu.
Linkevicius và cs., 2013Lâm sàng tiến cứu, 53 mão đơn trên implantBờ càng sâu, xi măng sót không phát hiện được càng nhiều. Phim X-quang chỉ thấy xi măng sót ở mặt gần 4/53 ca (7,5%) và mặt xa 6/53 ca (11,3%).
Wilson, 2009Nội soi, 42 implant có dấu hiệu viêm quanh implantCó xi măng dư ở 34/42 implant (81%); 30 ngày sau khi lấy bỏ, 74% hết dấu hiệu viêm.

Một phân tích hồi cứu khác của Linkevicius (2013) ghi nhận bệnh quanh implant ở 62/73 implant còn xi măng sót (85%); ở bệnh nhân có tiền sử viêm nha chu, mọi implant còn xi măng sót đều bị viêm quanh implant.

Trên phiếu, xin ghi độ sâu bờ mong muốn cho từng mặt (ví dụ: ngang nướu mặt trong, 0,5 mm dưới nướu mặt ngoài).

Gắn xi măng hay bắt vít trên abutment cá nhân hoá

Tổng quan hệ thống của Wittneben và cs. (2014) không thấy khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ tồn tại sau 5 năm giữa phục hình gắn xi măng (96,03%) và bắt vít (95,55%), nhưng nhóm bắt vít có ít biến chứng kỹ thuật và sinh học hơn tính chung. Với mão đơn trên abutment cá nhân hoá có hai cách:

  • Gắn xi măng trong miệng: khi trục implant ló ra ở mặt ngoài hoặc ở múi, nơi lỗ vít làm yếu mão hoặc lộ ra vùng thẩm mỹ.
  • Mão có lỗ vít, gắn lên abutment ngoài miệng: xi măng được làm sạch trên bàn trước khi bắt vít, và phục hình tháo ra được. Xem quy trình trong bài phục hình lai dán ngoài miệng lên base titan.

Nếu muốn mão có lỗ vít, xin ghi trên phiếu và trao đổi trước khi thiết kế, vì vị trí lỗ vít phụ thuộc trục implant.

Khi gắn trong miệng: giảm xi măng sót

  • Dùng abutment sao (copy abutment). Trong thử nghiệm lâm sàng của Andrijauskas và cs. (2021), tỷ lệ diện tích xi măng sót (trung vị) là 1,39% khi dùng đê cao su, so với 0,58% khi dùng chỉ co nướu kết hợp abutment sao (ép bớt xi măng thừa ngoài miệng trước khi gắn).
  • Không trông vào phim X-quang. Trên abutment zirconia, một nghiên cứu in vitro (Vindasiute-Narbute và cs., 2023) không lấy sạch được xi măng ở bất kỳ mẫu nào, và 95% trường hợp còn sót không thấy được trên phim.
  • Loại xi măng cũng ảnh hưởng. Trong cùng nghiên cứu, glass ionomer biến tính nhựa để lại nhiều hơn 7,4% xi măng sót so với xi măng nhựa.

Titan hay zirconia trên Ti-base

Labo làm abutment cá nhân hoá bằng titan cao cấp hoặc zirconia trên base titan. Tổng quan của Linkevicius và Vaitelis (2015) không thấy ưu thế rõ của vật liệu nào về co nướu, độ sâu túi, chảy máu khi thăm dò hay mức xương, nhưng màu niêm mạc quanh abutment zirconia tốt hơn có ý nghĩa thống kê.

Hội nghị đồng thuận ITI năm 2023 (Derksen và cs.) ghi nhận mão đơn trên Ti-base có kết quả tương đương các loại abutment khác ở 1 năm, và khuyên chọn loại abutment ngay từ giai đoạn lập kế hoạch.

Titan hợp răng sau và ca chịu lực lớn; zirconia trên Ti-base hợp vùng thẩm mỹ nướu mỏng. Xem zirconia dán trên Ti-base và ca lâm sàng implant răng 11 với abutment hybrid cá nhân hoá.

Vì sao thông tin implant phải chính xác

Theo tổng quan của Mizumoto và Yilmaz (2018), scan body là thiết bị chuyển vị trí implant, giữ vai trò thiết yếu cho độ khít của phục hình trên implant. Phần mềm thiết kế ghép scan body trên file với thư viện của đúng hệ implant, nên sai dòng hoặc đường kính kết nối là abutment có thể không khít.

Ngoài hệ, dòng và kết nối, xin ghi hãng và loại scan body đã dùng; với dấu mức implant, gửi kèm analog cùng hệ. Định dạng file xem bài máy scan tương thích với labo.

Nguồn: Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2011; Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2013 (tiến cứu); Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2013 (hồi cứu); Wilson, J Periodontol 2009; Wittneben và cs., Int J Oral Maxillofac Implants 2014; Andrijauskas và cs., Clin Oral Implants Res 2021; Vindasiute-Narbute và cs., Int J Prosthodont 2023; Linkevicius và Vaitelis, Clin Oral Implants Res 2015; Derksen và cs., ITI Consensus, Clin Oral Implants Res 2023; Mizumoto và Yilmaz, J Prosthet Dent 2018.

Vui lòng để lại thông tin cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phản hồi thông tin tới bạn sớm nhất có thể.

Khai Nguyen Lab at HSDI 2024



    Kênh liên hệ thuận tiện


    Bạn là: (Khai Nguyên chỉ nhận ca từ bác sĩ và phòng khám, không phục vụ bệnh nhân trực tiếp)