Độ sâu bờ abutment và xi măng dư: nghiên cứu nói gì
Abutment cá nhân hoá cho phép đặt bờ ngang hoặc hơi dưới nướu để dễ gắn mão và vệ sinh. Vì sao bờ nông quan trọng:
| Nghiên cứu | Thiết kế | Kết quả chính |
| Linkevicius và cs., 2011 | Mô hình in vitro, bờ từ 1 mm trên nướu đến 3 mm dưới nướu | Lượng xi măng còn sót sau khi làm sạch tăng dần khi bờ càng nằm sâu dưới nướu. |
| Linkevicius và cs., 2013 | Lâm sàng tiến cứu, 53 mão đơn trên implant | Bờ càng sâu, xi măng sót không phát hiện được càng nhiều. Phim X-quang chỉ thấy xi măng sót ở mặt gần 4/53 ca (7,5%) và mặt xa 6/53 ca (11,3%). |
| Wilson, 2009 | Nội soi, 42 implant có dấu hiệu viêm quanh implant | Có xi măng dư ở 34/42 implant (81%); 30 ngày sau khi lấy bỏ, 74% hết dấu hiệu viêm. |
Một phân tích hồi cứu khác của Linkevicius (2013) ghi nhận bệnh quanh implant ở 62/73 implant còn xi măng sót (85%); ở bệnh nhân có tiền sử viêm nha chu, mọi implant còn xi măng sót đều bị viêm quanh implant.
Trên phiếu, xin ghi độ sâu bờ mong muốn cho từng mặt (ví dụ: ngang nướu mặt trong, 0,5 mm dưới nướu mặt ngoài).
Gắn xi măng hay bắt vít trên abutment cá nhân hoá
Tổng quan hệ thống của Wittneben và cs. (2014) không thấy khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ tồn tại sau 5 năm giữa phục hình gắn xi măng (96,03%) và bắt vít (95,55%), nhưng nhóm bắt vít có ít biến chứng kỹ thuật và sinh học hơn tính chung. Với mão đơn trên abutment cá nhân hoá có hai cách:
- Gắn xi măng trong miệng: khi trục implant ló ra ở mặt ngoài hoặc ở múi, nơi lỗ vít làm yếu mão hoặc lộ ra vùng thẩm mỹ.
- Mão có lỗ vít, gắn lên abutment ngoài miệng: xi măng được làm sạch trên bàn trước khi bắt vít, và phục hình tháo ra được. Xem quy trình trong bài phục hình lai dán ngoài miệng lên base titan.
Nếu muốn mão có lỗ vít, xin ghi trên phiếu và trao đổi trước khi thiết kế, vì vị trí lỗ vít phụ thuộc trục implant.
Khi gắn trong miệng: giảm xi măng sót
- Dùng abutment sao (copy abutment). Trong thử nghiệm lâm sàng của Andrijauskas và cs. (2021), tỷ lệ diện tích xi măng sót (trung vị) là 1,39% khi dùng đê cao su, so với 0,58% khi dùng chỉ co nướu kết hợp abutment sao (ép bớt xi măng thừa ngoài miệng trước khi gắn).
- Không trông vào phim X-quang. Trên abutment zirconia, một nghiên cứu in vitro (Vindasiute-Narbute và cs., 2023) không lấy sạch được xi măng ở bất kỳ mẫu nào, và 95% trường hợp còn sót không thấy được trên phim.
- Loại xi măng cũng ảnh hưởng. Trong cùng nghiên cứu, glass ionomer biến tính nhựa để lại nhiều hơn 7,4% xi măng sót so với xi măng nhựa.
Titan hay zirconia trên Ti-base
Labo làm abutment cá nhân hoá bằng titan cao cấp hoặc zirconia trên base titan. Tổng quan của Linkevicius và Vaitelis (2015) không thấy ưu thế rõ của vật liệu nào về co nướu, độ sâu túi, chảy máu khi thăm dò hay mức xương, nhưng màu niêm mạc quanh abutment zirconia tốt hơn có ý nghĩa thống kê.
Hội nghị đồng thuận ITI năm 2023 (Derksen và cs.) ghi nhận mão đơn trên Ti-base có kết quả tương đương các loại abutment khác ở 1 năm, và khuyên chọn loại abutment ngay từ giai đoạn lập kế hoạch.
Titan hợp răng sau và ca chịu lực lớn; zirconia trên Ti-base hợp vùng thẩm mỹ nướu mỏng. Xem zirconia dán trên Ti-base và ca lâm sàng implant răng 11 với abutment hybrid cá nhân hoá.
Vì sao thông tin implant phải chính xác
Theo tổng quan của Mizumoto và Yilmaz (2018), scan body là thiết bị chuyển vị trí implant, giữ vai trò thiết yếu cho độ khít của phục hình trên implant. Phần mềm thiết kế ghép scan body trên file với thư viện của đúng hệ implant, nên sai dòng hoặc đường kính kết nối là abutment có thể không khít.
Ngoài hệ, dòng và kết nối, xin ghi hãng và loại scan body đã dùng; với dấu mức implant, gửi kèm analog cùng hệ. Định dạng file xem bài máy scan tương thích với labo.
Nguồn: Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2011; Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2013 (tiến cứu); Linkevicius và cs., Clin Oral Implants Res 2013 (hồi cứu); Wilson, J Periodontol 2009; Wittneben và cs., Int J Oral Maxillofac Implants 2014; Andrijauskas và cs., Clin Oral Implants Res 2021; Vindasiute-Narbute và cs., Int J Prosthodont 2023; Linkevicius và Vaitelis, Clin Oral Implants Res 2015; Derksen và cs., ITI Consensus, Clin Oral Implants Res 2023; Mizumoto và Yilmaz, J Prosthet Dent 2018.