Khí cụ chống ngưng thở khi ngủ (chống ngáy)
Khai Nguyên Dental Laboratory

Khí cụ chống ngưng thở khi ngủ (chống ngáy)

Khí cụ đẩy hàm dưới ra trước (MAD) hỗ trợ điều trị ngáy và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, chế tác bằng nhựa y tế đạt chuẩn FDA theo vị trí đẩy hàm do bác sĩ ghi. Labo chỉ làm khi bệnh nhân đã được chẩn đoán và có chỉ định của bác sĩ.

Khí cụ labo làm là gì

Khí cụ chống ngáy và hỗ trợ điều trị ngưng thở khi ngủ tại Khai Nguyên là khí cụ đẩy hàm dưới ra trước (mandibular advancement device, MAD): hai máng ôm cung răng trên và dưới, liên kết với nhau để giữ hàm dưới ở vị trí đưa ra trước khi ngủ, nhờ đó mở rộng đường thở phía sau lưỡi. Mức đẩy hàm do bác sĩ quyết định và điều chỉnh khi tái khám; labo chế tác đúng theo vị trí khớp cắn bác sĩ ghi.

Vật liệu: nhựa y tế đạt chuẩn FDA, chế tác riêng theo mẫu hàm của từng bệnh nhân.

Chỉ định và giới hạn

  • Ngáy đơn thuần và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) mức nhẹ đến trung bình, hoặc bệnh nhân OSA không dung nạp máy CPAP, sau khi đã được chẩn đoán bằng đa ký giấc ngủ.
  • Khí cụ không thay thế chẩn đoán và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa giấc ngủ. Hiệu quả cần được đánh giá lại sau khi đeo.
  • Cần đủ răng ổn định ở cả hai hàm để máng bám giữ; bác sĩ kiểm tra tình trạng khớp thái dương hàm và nha chu trước khi chỉ định.

Y văn nói gì về hiệu quả

Phân tích gộp trên bệnh nhân ngưng thở khi ngủ người lớn cho thấy khí cụ đẩy hàm dưới ra trước giảm chỉ số ngưng thở – giảm thở (AHI) trung bình 16,8 lần/giờ và giảm điểm buồn ngủ ban ngày Epworth khoảng 4 điểm khi dùng lâu dài (Yu M và cộng sự, PLoS One 2023, PubMed). Tổng quan hệ thống 18 nghiên cứu cũng ghi nhận hiệu quả của khí cụ với ngáy đơn thuần có hoặc không kèm ngưng thở khi ngủ (De Meyer MMD và cộng sự, Sleep Medicine Reviews 2021, PubMed).

Giai đoạn đầu bệnh nhân có thể khó chịu ở khớp thái dương hàm, tăng tiết nước bọt hoặc thay đổi khớp cắn; bác sĩ theo dõi và chỉnh mức đẩy hàm định kỳ.

Dữ liệu bác sĩ cần gửi

  • Scan trong miệng (STL/PLY) hoặc dấu/mẫu hàm của cả hai hàm, rõ toàn bộ cung răng và vùng lợi.
  • Ghi khớp cắn ở vị trí đưa hàm dưới ra trước mà bác sĩ chọn cho lần giao đầu tiên.
  • Kết quả chẩn đoán (ngáy đơn thuần hay OSA, mức độ) và ghi chú đặc biệt: răng lung lay, phục hình cố định, mão implant, răng mất.

Quy trình tại labo

  1. Kiểm tra mẫu hoặc file scan: đủ cung răng, không có bọt hay vùng thiếu dữ liệu.
  2. Gắn mẫu theo khớp cắn đẩy hàm bác sĩ đã ghi.
  3. Chế tác hai máng bằng nhựa y tế đạt chuẩn FDA, liên kết hai máng theo vị trí đẩy hàm.
  4. Mài chỉnh, đánh bóng, kiểm tra độ khít trên mẫu và giao kèm hộp đựng.

Khi bệnh nhân đã có phục hình

Máng bám lên răng và phục hình trong miệng, nên xin báo trước vị trí mão, cầu hoặc mão trên implant để labo giảm lực bám ở những vùng đó. Nếu bệnh nhân vừa làm răng sứ, nên đợi phục hình hoàn tất rồi mới lấy dấu làm khí cụ.

Với ca cần bảo vệ răng khi nghiến hoặc hỗ trợ khớp thái dương hàm mà không cần đẩy hàm, xem máng ổn định hàm. Để trao đổi về một ca cụ thể, xin liên hệ Khai Nguyên hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng.

Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên tham khảo. Khai Nguyên Dental Lab chỉ chế tác khí cụ theo chỉ định chuyên môn và không bán trực tiếp cho bệnh nhân.

Khuyến cáo AASM/AADSM 2015: ai làm gì

Hướng dẫn thực hành lâm sàng chung của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (AASM) và Viện Hàn lâm Nha khoa Giấc ngủ Hoa Kỳ (AADSM) về điều trị ngáy và ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) bằng khí cụ miệng (Ramar và cộng sự, J Clin Sleep Med 2015) khuyến cáo cho người lớn:

  • Bác sĩ giấc ngủ kê khí cụ cho bệnh nhân ngáy đơn thuần muốn điều trị, và cân nhắc khí cụ cho bệnh nhân OSA không dung nạp CPAP hoặc muốn phương pháp khác (mức STANDARD).
  • Khi đã có chỉ định của bác sĩ giấc ngủ, nha sĩ nên dùng khí cụ làm riêng, chỉnh được mức đẩy (custom, titratable), thay vì khí cụ làm sẵn (mức GUIDELINE).
  • Nha sĩ theo dõi để phát hiện tác dụng phụ trên răng và thay đổi khớp cắn; bác sĩ giấc ngủ cho đo giấc ngủ lại để xác nhận hiệu quả; bệnh nhân tái khám định kỳ với cả hai (mức GUIDELINE).

Chẩn đoán và kê đơn thuộc về bác sĩ giấc ngủ; nha sĩ chọn, lắp và theo dõi khí cụ. Labo chỉ chế tác theo phiếu của nha sĩ.

Tiêu chí của một khí cụ đẩy hàm hiệu quả

Định nghĩa cập nhật năm 2019 của AADSM (Mogell và cộng sự, J Dent Sleep Med 2019) nêu các tiêu chí sau:

Tiêu chí AADSM 2019Ý nghĩa khi đặt labo
Làm riêng từ dấu hoặc scan và mẫu hàm của bệnh nhân, không phải khí cụ làm sẵn rồi cắt, uốn, đệm lạiGửi scan hoặc dấu đầy đủ hai hàm
Vật liệu tương thích sinh học, ôm cả hai hàmLabo dùng nhựa y tế đạt chuẩn FDA; ghi rõ thiết kế một khối hay hai máng
Đẩy hàm theo bước 1 mm hoặc nhỏ hơn, khoảng chỉnh ít nhất 5 mm, lùi lại được, mức đẩy kiểm chứng đượcGhi rõ có cần cơ chế chỉnh được và khoảng chỉnh mong muốn
Bệnh nhân tự tháo lắp; bám giữ ổn định, không bật ra, giữ đúng mức đẩy khi ngủBáo vị trí phục hình, răng lung lay, răng mất

Định nghĩa này cũng nêu khí cụ được chỉ định cho OSA nhẹ đến trung bình và ngáy đơn thuần, và là điều trị được chấp nhận cho OSA nặng khi bệnh nhân không đáp ứng hoặc không dung nạp máy thở áp lực dương.

Mức đẩy hàm và chỉnh dần

  • Trong 18 nghiên cứu De Meyer và cộng sự tổng hợp (2021), khí cụ thường đạt 50–70% mức đưa hàm ra trước tối đa.
  • Bartolucci và cộng sự (Sleep and Breathing 2016) phân tích 13 thử nghiệm ngẫu nhiên với mức đẩy 50–89%: trên 50%, đẩy thêm không thay đổi có ý nghĩa tỷ lệ thành công (Q = 0,373; p = 0,541), và mức giảm AHI không tỷ lệ thuận với mức đẩy. Chất lượng bằng chứng trung bình (GRADE).

Nha sĩ chọn vị trí khởi đầu và chỉnh dần theo triệu chứng; bác sĩ giấc ngủ xác nhận bằng đo giấc ngủ lại. Để labo làm đúng vị trí khởi đầu, xin ghi thêm trên phiếu:

  • Mức đưa hàm ra trước tối đa (mm) và mức đẩy cho lần giao đầu (mm hoặc %).
  • Độ mở dọc vùng răng cửa khi ghi khớp cắn (mm).
  • Có cần chừa khoảng chỉnh thêm về phía trước hay không.

Tác dụng phụ lâu dài và kế hoạch theo dõi

Theo AASM/AADSM 2015, phần lớn tác dụng phụ liên quan đến răng: ê răng, vấn đề ở nướu, mỏi cơ hàm, tăng tiết nước bọt; khí cụ cũng có thể làm nặng thêm rối loạn thái dương hàm và gây lệch răng. Pliska và cộng sự (J Clin Sleep Med 2014) đo mẫu hàm của 77 bệnh nhân đeo khí cụ trung bình 11,1 năm: cắn phủ giảm 2,3 mm, cắn chìa giảm 1,9 mm, xuất hiện thêm cắn ngược vùng răng trước và hở khớp vùng răng sau; các thay đổi tiếp diễn chứ không dừng lại.

  • Dữ liệu nền: trước khi giao khí cụ, scan hai hàm ở lồng múi tối đa để so sánh ở các lần tái khám.
  • Tái khám định kỳ: với nha sĩ (răng, khớp cắn, khớp thái dương hàm) và với bác sĩ giấc ngủ (hiệu quả).
  • Làm lại khí cụ: khi khớp cắn đã đổi hoặc có phục hình mới, gửi scan và ghi khớp cắn mới. Xem định dạng file labo nhận và quy trình đặt hàng.

Nguồn: Ramar K và cộng sự, J Clin Sleep Med 2015;11(7):773–827, doi:10.5664/jcsm.4858; Mogell K và cộng sự, J Dent Sleep Med 2019;6(3), doi:10.15331/jdsm.7090; De Meyer MMD và cộng sự, Sleep Med Rev 2021;56:101407; Bartolucci ML và cộng sự, Sleep Breath 2016;20(3):911–919; Pliska BT và cộng sự, J Clin Sleep Med 2014;10(12):1285–91.

Vui lòng để lại thông tin cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phản hồi thông tin tới bạn sớm nhất có thể.

Khai Nguyen Lab at HSDI 2024



    Kênh liên hệ thuận tiện


    Bạn là: (Khai Nguyên chỉ nhận ca từ bác sĩ và phòng khám, không phục vụ bệnh nhân trực tiếp)