

Máng ổn định hàm
Máng nhựa cứng phủ toàn cung, bằng nhựa y tế đạt chuẩn FDA, tạo tiếp xúc đều với răng đối diện: bảo vệ răng và phục hình ở bệnh nhân nghiến, hỗ trợ điều trị rối loạn thái dương hàm theo chỉ định của bác sĩ.


Máng nhựa cứng phủ toàn cung, bằng nhựa y tế đạt chuẩn FDA, tạo tiếp xúc đều với răng đối diện: bảo vệ răng và phục hình ở bệnh nhân nghiến, hỗ trợ điều trị rối loạn thái dương hàm theo chỉ định của bác sĩ.
Máng ổn định hàm (occlusal splint, bite splint) là máng nhựa cứng phủ toàn bộ cung răng, tạo tiếp xúc đều với răng hàm đối diện để cơ nhai thư giãn và giảm tải cho khớp thái dương hàm. Vật liệu: nhựa y tế đạt chuẩn FDA, chế tác riêng theo mẫu hàm của từng bệnh nhân.
Máng không phải khí cụ duy trì sau chỉnh nha và không đẩy hàm ra trước. Để bảo vệ răng khi chơi thể thao, xem máng bảo vệ răng thể thao. Với ca ngáy hoặc ngưng thở khi ngủ, xem khí cụ chống ngưng thở khi ngủ.
Với labo hoặc phòng khám tự in máng, Khai Nguyên nhận thiết kế máng khớp cắn và gửi lại file: thời gian thiết kế 12 giờ, có gói nhanh 2 giờ. Các hạng mục thiết kế khác có ở trang dịch vụ thiết kế CAD.
Bác sĩ kiểm tra độ khít và tiếp xúc trong miệng, mài chỉnh nhẹ nếu cần, và hẹn tái khám để đánh giá lại khớp cắn và triệu chứng. Máng mòn theo thời gian ở bệnh nhân nghiến mạnh; nên kiểm tra định kỳ và làm lại khi máng mỏng hoặc nứt.
Để trao đổi về một ca cụ thể, xin liên hệ Khai Nguyên hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng.
Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên tham khảo. Khai Nguyên Dental Lab chỉ chế tác khí cụ theo chỉ định chuyên môn và không bán trực tiếp cho bệnh nhân.
Máng ổn định hàm của labo là máng nhựa cứng. Máng bảo vệ răng thể thao nhiều lớp, dày 2–6 mm, dùng để hấp thụ va chạm khi chơi thể thao, không thay máng ổn định hàm cho bệnh nhân nghiến.
Tổng quan hệ thống của Boulatar và cộng sự (Dental and Medical Problems 2026) mô tả máng ổn định là máng nhựa cứng, mặt nhai phẳng và nhẵn. Răng đối diện chạm đều, đồng thời ở tương quan trung tâm và cân xứng ở lồng múi tối đa. Khi đưa hàm sang bên, máng giữ dẫn hướng răng nanh.
| Yếu tố | Nguyên tắc trong y văn | Bác sĩ ghi trên phiếu |
|---|---|---|
| Vùng phủ | Toàn cung, lực phân tán lên mọi răng thay vì dồn vào vài răng | Hàm trên hay hàm dưới |
| Mặt nhai | Phẳng, nhẵn, tiếp xúc đều và đồng thời ở tương quan trung tâm | Vị trí ghi khớp cắn, độ nâng khớp vùng răng sau |
| Vận động hàm | Dẫn hướng răng nanh khi đưa hàm sang bên | Dẫn hướng răng nanh hoặc yêu cầu khác |
| Độ dày | Máng quá dày có thể cản trở nuốt, khép môi hoặc phát âm | Độ nâng khớp mong muốn (mm) |
Albagieh và cộng sự còn lưu ý máng không phủ hết răng hoặc không tạo tiếp xúc cân bằng không nên đeo tới 4–6 tuần, và đeo máng liên tục 24 giờ mỗi ngày có thể gây thay đổi khớp cắn không hồi phục.
Máng là biện pháp bảo vệ tháo ra được, không phải điều trị dứt điểm. Chẩn đoán và đánh giá hiệu quả thuộc về bác sĩ; labo chịu trách nhiệm máng khít, đúng tiếp xúc và dẫn hướng ghi trên phiếu.
Nguồn: Okeson JP, J Am Dent Assoc 1987;114(6):788–91; Albagieh H và cộng sự, Saudi Dent J 2023;35(1):70–79; Boulatar Y và cộng sự, Dent Med Probl 2026;63(2):509–516; Riley P và cộng sự, Br Dent J 2020;228(3):191–197; Macedo CR và cộng sự, Cochrane Database Syst Rev 2007, CD005514.
Vui lòng để lại thông tin cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phản hồi thông tin tới bạn sớm nhất có thể.
