Sứ feldspathic là gì
Sứ feldspathic là dòng sứ nha khoa lâu đời nhất còn được dùng thường quy trong phục hình thẩm mỹ. Vật liệu ở dạng bột gốc fenspat, kỹ thuật viên đắp ướt từng lớp rồi nung. Không có công đoạn mài từ phôi, không qua CAD/CAM: mọi hiệu ứng quang học trên chiếc veneer hoàn thiện đều do tay người đặt vào.
Độ bền uốn của feldspathic nằm khoảng 60 đến 90 MPa, thấp hơn nhiều so với lithium disilicate khoảng 400 đến 530 MPa và zirconia trên 800 MPa. Con số đó nghe đáng lo cho tới khi nhớ lại cách phục hình này làm việc trong miệng. Một veneer feldspathic đã dán không phải là một cấu trúc đứng độc lập. Sau khi dán dính lên men răng, răng và lớp sứ ứng xử như một khối, và men răng mới là phần chịu lực. Độ bền đo trên thanh mẫu không phải yếu tố quyết định tuổi thọ ở đây. Chất lượng dán mới là yếu tố đó.
Vì sao chọn feldspathic cho ca thẩm mỹ
Hai lý do, và chúng liên quan với nhau.
Tính chất quang học. Feldspathic có độ trong cao nhất trong các vật liệu dùng thường quy, nên gần men răng thật nhất. Nó tán ánh sáng ở cùng dải với men, vì vậy phục hình giữ được chiều sâu thay vì trông như một mảng sáng phẳng. Với ca mà các răng bên cạnh còn nguyên, chính khác biệt đó khiến veneer không bị nhìn ra là thứ “đắp thêm”.
Độ dày. Vì sứ được đắp chứ không mài từ phôi, có thể dựng ở độ dày 0,2 đến 0,3 mm. Mức đó đủ mỏng cho hướng không mài hoặc mài tối thiểu, giữ được men răng. Bảo tồn men không chỉ là nguyên tắc điều trị ít xâm lấn, nó còn bảo vệ chính lớp dán mà phục hình phụ thuộc vào.
Chỉ định và chống chỉ định
Nếu đang phân vân giữa hai vật liệu, xem veneer feldspathic hay e.max: chọn thế nào.
Feldspathic hợp với các ca thay đổi vừa phải trên nền răng còn tốt: đóng khe thưa, chỉnh hình thể và tỉ lệ, sửa lệch nhẹ, nâng màu ở mức vừa. Điều kiện là còn men răng để dán và cùi không đổi màu nặng.
Đây là lựa chọn sai khi phải che một cùi tối, vì ở 0,3 mm không đủ vật liệu để chặn màu nền. Cũng là lựa chọn sai khi bệnh nhân có thói quen nghiến răng mạnh, hoặc khi kế hoạch cần thay đổi lớn về chức năng. Trong những tình huống đó, lithium disilicate hoặc zirconia là hướng an toàn hơn; ngưỡng cụ thể có trong bài so sánh vật liệu răng sứ.
Độ dày và sửa soạn
Con số cụ thể cho từng mức đổi màu có trong bài độ dày veneer tối thiểu: bao nhiêu là đủ.
Điều hữu ích nhất bác sĩ có thể làm cho một ca feldspathic là giữ đường hoàn tất nằm trên men. Khi đường hoàn tất rơi xuống ngà, lực dán yếu đi và con số tuổi thọ thay đổi theo. Nếu ca cần mài nhiều hơn mức men cho phép, đó là dấu hiệu nên đổi vật liệu chứ không phải cố làm mỏng.
Xin gửi kèm màu cùi thực tế bên cạnh màu đích. Trên một veneer 0,3 mm, cùi răng không phải chi tiết nền, nó chiếm một nửa màu cuối cùng.
Y văn nói gì về tuổi thọ
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp 13 nghiên cứu lâm sàng (trung vị theo dõi 9 năm) ước tính tỉ lệ tồn tại của veneer sứ feldspathic là 87% (KTC 95%: 82–93%), của veneer sứ thủy tinh là 94% (87–100%); phân tích hồi quy cho thấy loại sứ không ảnh hưởng đến tỉ lệ thất bại. Biến chứng thường gặp nhất là nứt, mẻ sứ (4%), sau đó là bong (2%).[1]
Một nghiên cứu hồi cứu trên 170 veneer feldspathic vùng răng trước (sửa soạn tối thiểu hoặc không mài) ghi nhận tỉ lệ tồn tại 91,77% sau tối đa 7 năm. Cả 14 veneer hỏng đều do vỡ sứ và được làm lại bằng lithium disilicate; không có veneer nào dày tối đa 0,5 mm bị hỏng.[2]
Cách đọc thực tế: feldspathic dán trên men và dùng đúng chỉ định có tuổi thọ tương đương sứ thủy tinh, nhưng rủi ro chính là vỡ sứ. Vì vậy labo giữ veneer mỏng, đúng độ dày thiết kế, và đổi sang lithium disilicate khi ca cần chịu lực hoặc cần lớp sứ dày.
[1] Morimoto S, Albanesi RB, Sesma N, Agra CM, Braga MM. Main Clinical Outcomes of Feldspathic Porcelain and Glass-Ceramic Laminate Veneers: A Systematic Review and Meta-Analysis of Survival and Complication Rates. Int J Prosthodont. 2016;29(1):38–49.
[2] Mihali SG, Lolos D, Popa G, Tudor A, Bratu DC. Retrospective Long-Term Clinical Outcome of Feldspathic Ceramic Veneers. Materials (Basel). 2022;15(6):2150.
Vì sao chúng tôi đắp tay
Phục hình mài từ phôi bắt đầu từ một khối đã cố định màu. Phục hình đắp lớp bắt đầu từ số không, và kỹ thuật viên đặt độ đục ở cổ răng, vùng chuyển tiếp ở thân, rồi độ trong cùng dải halo ở rìa cắn theo đúng thứ tự men răng thật vận hành. Với ca nhiều răng trước, đây cũng là cách tạo ra khác biệt có chủ ý giữa các răng, vì một hàm răng thật không có hai răng nào giống hệt nhau.
Ca thực tế tại Khai Nguyên
Để trao đổi về một ca cụ thể, xin liên hệ Khai Nguyên hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng.
Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên tham khảo. Khai Nguyên Dental Lab chỉ chế tác phục hình theo chỉ định chuyên môn và không bán trực tiếp cho bệnh nhân.