Lưu trữ danh mục: Phục hình implant

Mão và cầu trên implant, lựa chọn abutment, phục hình lai, phục hình toàn hàm trên implant và máng hướng dẫn phẫu thuật. Bài viết và workshop về quy trình phục hình trên implant giữa phòng khám và labo.

Quang trắc học trong miệng (IPG) cho implant toàn hàm: giải quyết được gì và không thay được gì

Buổi sinh hoạt chuyên môn về ứng dụng quang trắc học IPG trong phục hình implant toàn hàm tại Nha khoa Viễn Đông, tháng 10/2025

Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên, tổng hợp từ buổi sinh hoạt chuyên môn giữa Khai Nguyên Dental Lab và Nha khoa Viễn Đông (tháng 10/2025), hội thảo cùng Việt Đăng (tháng 3/2026) và các ca toàn hàm labo đang thực hiện.

Lấy dấu implant toàn hàm là bước dễ sai nhất trong cả quy trình. Với 4 đến 6 implant trên một cung, chỉ cần một trụ sai vị trí vài chục micromet là khung phục hình không khít thụ động, và mọi công sức thẩm mỹ phía sau trở nên vô nghĩa. Quang trắc học trong miệng (intraoral photogrammetry, viết tắt IPG) là hướng giải quyết đang được áp dụng ngày càng nhiều, và là chủ đề Khai Nguyên đã trao đổi cùng các bác sĩ Nha khoa Viễn Đông cũng như đưa vào hội thảo tháng 3/2026.

Ba cách lấy dấu implant toàn hàm và giới hạn của từng cách

Cách Nguyên lý Giới hạn
Dấu truyền thống với coping nối lại (splinted impression) Coping bắt vít lên trụ, nối bằng nhựa hoặc thanh kim loại, lấy dấu bằng silicone Nhựa co ngót, dấu biến dạng khi tháo, phụ thuộc nhiều vào tay bác sĩ; cần đổ mẫu và xác minh lại tại labo
Scan trong miệng với scan body Máy scan ghi hình các scan body và ghép lại thành vị trí implant Sai số tích luỹ theo khoảng cách: rất tốt cho 1 đến 3 implant gần nhau, kém dần khi cung răng dài và thiếu điểm tham chiếu giải phẫu ở bệnh nhân mất răng toàn bộ
Quang trắc học trong miệng (IPG) Camera chuyên dụng chụp nhiều ảnh các marker bắt vít lên trụ từ nhiều góc, phần mềm tính vị trí không gian ba chiều của từng trụ Chỉ cho vị trí implant, không cho hình thể mô mềm hay răng đối; cần thiết bị riêng và phải kết hợp với một bản scan mô mềm

Ảnh trên: Buổi sinh hoạt chuyên môn về ứng dụng quang trắc học trong phục hình implant toàn hàm cùng Nha khoa Viễn Đông, tháng 10/2025.

IPG giải quyết được gì

Điểm mạnh của quang trắc học là độ chính xác không suy giảm theo khoảng cách giữa các trụ. Vì hệ thống tính vị trí từng marker bằng phép giao hội từ nhiều ảnh chụp ở góc khác nhau, sai số không tích luỹ dọc cung răng như khi ghép các ảnh scan liên tiếp. Với cung răng mất răng toàn bộ, nơi không có răng thật làm điểm tựa ghép ảnh, đây là khác biệt quyết định.

Với labo, dữ liệu IPG có nghĩa là vị trí implant đến dưới dạng số và đã được kiểm chứng, nên bước xác minh trên mẫu bằng khoá xác minh (verification jig) rút ngắn đáng kể hoặc không cần lặp lại nhiều lần. Đó là lý do các ca toàn hàm zirconia trên thanh iBar hay All-on-X hai hàm có thể đi thẳng vào thiết kế thay vì chờ vài vòng thử khung.

Quy trình phối hợp giữa phòng khám và labo

  1. Tháo phục hình tạm, bắt marker quang trắc lên trụ multi-unit. Kiểm tra marker siết chặt và không che nhau ở góc chụp.
  2. Chụp bằng thiết bị quang trắc. Máy tính vị trí ba chiều của từng trụ và xuất file vị trí implant.
  3. Scan mô mềm và hàm đối. Đây là bước không thể thiếu: IPG cho vị trí trụ, còn hình thể nướu, sống hàm và hàm đối phải lấy bằng máy scan trong miệng.
  4. Scan phục hình tạm nếu bệnh nhân đang dùng và hài lòng; đây là dữ liệu quý nhất về kích thước dọc, đường cười và độ nâng môi.
  5. Gửi labo ba bộ dữ liệu cùng ảnh khuôn mặt: file vị trí implant, scan mô mềm và hàm đối, scan phục hình tạm.
  6. Labo ghép dữ liệu vị trí implant vào bản scan mô mềm, thiết kế răng trước rồi rút gọn thành khung hoặc thanh bar, phay và kiểm tra khít thụ động.

Những gì IPG không thay thế được

  • Không thay được bản scan mô mềm. Nhiều ca gửi thiếu bản scan này, labo có vị trí trụ nhưng không biết đường viền nướu để thiết kế mặt tiếp xúc niêm mạc.
  • Không thay được thử khít trên lâm sàng. Với cầu toàn hàm, thử một vít trong miệng vẫn là bước kiểm tra cuối cùng trước khi hoàn thiện sứ.
  • Không thay được thông tin thẩm mỹ. Kích thước dọc, đường giữa và độ nâng môi vẫn phải do bác sĩ xác lập, thường qua phục hình tạm.

Bác sĩ chưa có thiết bị IPG thì sao

Không có quang trắc học vẫn làm được ca toàn hàm. Khai Nguyên nhận cả ba dạng dữ liệu: dấu truyền thống có coping nối, scan trong miệng với scan body, và file IPG. Với hai cách đầu, labo sẽ đề nghị làm khoá xác minh để bác sĩ thử trong miệng trước khi phay khung, và đây là bước nên làm chứ không nên bỏ: chi phí một khoá xác minh nhỏ hơn nhiều so với phay lại một thanh bar titan.

Bác sĩ muốn trao đổi về quy trình dữ liệu cho ca toàn hàm, liên hệ hotline 0902 945 585. Đọc thêm phục hình toàn hàm trên thanh iBarđịnh dạng file scan labo nhận.

Nguồn: Fanpage Khai Nguyên Dental Lab, bài đăng ngày 03/10/2025 và 28/02/2026.

Phục hình toàn hàm trên thanh iBar: full contour hay tách iBar, và bước đánh bóng bar dưới nướu

Đánh bóng thanh bar titan dưới nướu trong ca All-on-X tách iBar, Khai Nguyên Dental Lab

Bài viết dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên, tổng hợp từ các ca phục hình toàn hàm trên thanh bar mà Khai Nguyên Dental Lab đã công bố trên Facebook và Instagram từ tháng 6/2025 đến tháng 7/2026. Ảnh do labo chụp, không có thông tin định danh bệnh nhân.

Với phục hình toàn hàm cố định trên implant, câu hỏi bác sĩ hay đặt cho labo là: bắt vít cầu zirconia thẳng lên trụ multi-unit, hay làm một thanh bar titan rồi đặt zirconia lên trên? Và nếu dùng bar, nên phay zirconia nguyên khối phủ kín bar (full contour) hay tách rời lớp phủ (tách iBar)? Bài này trình bày cách Khai Nguyên chọn giữa các phương án, và một bước ít ai để ý nhưng quyết định thành công của ca: đánh bóng thanh bar dưới nướu.

Ba cấu trúc cho phục hình toàn hàm cố định

Cấu trúc Cách làm Ưu điểm Cần lưu ý
Cầu zirconia bắt vít trực tiếp Cầu zirconia nguyên khối hoặc đắp nướu sứ, bắt vít lên multi-unit Ít thành phần, thấp, thẩm mỹ tốt Toàn bộ lực đi qua zirconia; nguy cơ nứt quanh lỗ vít nếu khung mỏng hoặc khít không thụ động
Full contour trên iBar Bar titan phay CAD/CAM bắt vít lên implant; zirconia nguyên khối phay bao kín bar, dán lên bar Bar titan chịu lực, zirconia chỉ làm thẩm mỹ; hạn chế gãy vỡ zirconia Cần chiều cao khoảng phục hình đủ cho cả bar và lớp zirconia; hai lần khít phải đúng
Tách iBar (bar + lớp phủ rời) Bar titan riêng, phần răng và nướu phay rời rồi dán hoặc bắt vít lên bar; có thể thay lớp phủ về sau Sửa chữa và thay thế lớp phủ mà không đụng bar; dễ đánh bóng bar Đường tiếp giáp bar và lớp phủ phải kín; quy trình dán chuẩn

Ca full contour trên iBar với Aidite 3D Pro

Trong một ca All-on-X, Khai Nguyên chọn thiết kế full contour: zirconia nguyên khối phay bao kín thanh iBar để có độ cứng và khả năng chịu lực cao. Để cân bằng thẩm mỹ cho phục hình nguyên khối, labo dùng phôi Aidite 3D Pro, zirconia đa lớp có chuyển màu mượt từ cổ răng sang rìa cắn ngay trong phôi. Ở bước hoàn thiện, kỹ thuật viên chỉ cần stain bằng bộ Biomic và nướng bóng; không cần đắp sứ mà kết quả vẫn có chiều sâu. Cách này rút ngắn thời gian, tránh nguy cơ bong sứ đắp ở phục hình chịu lực lớn, và vẫn đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của bác sĩ.

Quy trình kỹ thuật số từ bar đến lớp phủ

  1. Xác minh vị trí implant. Mẫu được kiểm tra bằng khoá xác minh trước khi thiết kế. Với các ca lấy dấu bằng quang trắc học trong miệng (IPG), dữ liệu vị trí implant đến labo dưới dạng số và bước này rút ngắn đáng kể.
  2. Thiết kế răng trước, bar sau. Sắp răng theo kích thước dọc, đường giữa và độ nâng môi từ khoá cắn và ảnh khuôn mặt, rồi rút gọn vào trong thành bar sao cho bar đỡ toàn bộ răng mà không lộ ở vùng nướu mỏng. Bar và lớp phủ nằm trong cùng một file thiết kế.
  3. Phay bar titan và thử khít. Thử một vít (Sheffield test) trên mẫu; nếu có kẽ hở ở đầu đối diện, bar chưa thụ động và phải làm lại trước khi phay zirconia.
  4. Phay zirconia nguyên khối từ phôi đa lớp, thiêu kết, thử trên bar; kiểm tra lớp xi măng đều và mỏng.
  5. Đánh bóng bar dưới nướu. Xem mục riêng dưới đây.
  6. Hoàn thiện thẩm mỹ: stain, nướng bóng, đắp hoặc nhuộm nướu; dán lớp phủ lên bar theo quy trình của hãng xi măng; làm sạch xi măng dư.

Bước khuất nhưng quyết định: đánh bóng thanh bar dưới nướu

Ở phương pháp tách iBar, phần thanh bar nằm dưới nướu và mặt tiếp xúc niêm mạc của phục hình là nơi bệnh nhân không nhìn thấy nhưng chạm vào mỗi ngày. Bề mặt titan hoặc zirconia chưa đánh bóng kỹ ở vùng này giữ mảng bám, gây viêm niêm mạc quanh implant và mùi, và là lý do phổ biến khiến bệnh nhân không hài lòng dù răng phía trên rất đẹp. Vì vậy tại Khai Nguyên, bar được đánh bóng gương toàn bộ mặt dưới và các vùng tiếp giáp trước khi dán lớp phủ, và mặt niêm mạc của lớp phủ được làm lồi nhẹ, không có góc chết, để chỉ nha khoa và bàn chải kẽ đi qua được.

Ảnh trên: Đánh bóng thanh bar titan dưới nướu trong ca All-on-X tách iBar: bước khuất nhưng ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ mô mềm và sự hài lòng của bệnh nhân.

Chọn cấu trúc nào cho ca của bạn

  • Khoảng phục hình thấp (dưới khoảng 12 mm từ đầu multi-unit đến mặt nhai): cầu zirconia bắt vít trực tiếp thường là lựa chọn duy nhất khả thi.
  • Khoảng phục hình đủ và bệnh nhân nghiến răng hoặc lực nhai lớn: full contour trên iBar, để titan chịu lực và zirconia chỉ lo thẩm mỹ.
  • Bác sĩ muốn khả năng sửa chữa lâu dài: tách iBar, vì thay lớp phủ không cần tháo bar.
  • Cầu dài nhiều đơn vị trên ít implant: bar titan giúp phân bố lực; Khai Nguyên gọi giải pháp này là zirconia trên I-bar cho các ca nhịp dài.

Xem ca thật: toàn hàm zirconia Aidite 3D Pro trên thanh iBarAll-on-X hai hàm bắt vít trực tiếp. Sản phẩm liên quan: phục hình toàn hàm zirconia dán trên thanh bar. Gửi ca toàn hàm qua hotline 0902 945 585.

Case study: implant răng 11 với abutment hybrid cá nhân hoá và mão zirconia Lava A2

Zirconia crown on a custom hybrid abutment, implant at tooth 11, 3M Lava shade A2, intraoral view after seating

Ca thực hiện tại Khai Nguyên Dental Lab theo chỉ định của bác sĩ điều trị. Ảnh do labo chụp và đã công bố trên Instagram @khainguyendentallab ngày 14/06/2025; bài viết không chứa thông tin định danh bệnh nhân. Nội dung dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên.

Thông tin ca

Vị trí Răng 11 (răng cửa giữa hàm trên bên phải) trên implant
Loại phục hình Abutment hybrid cá nhân hoá (zirconia dán trên Ti-base) và mão zirconia gắn xi măng ngoài miệng
Vật liệu 3M Lava zirconia
Màu A2
Yêu cầu đặc biệt Sao chép đúng profile nướu bác sĩ đã tạo hình; phục hình nén nướu đúng 0,5 mm theo chỉ định
Nguồn ảnh Instagram @khainguyendentallab, 14/06/2025

Ảnh trên: mão zirconia răng 11 sau khi gắn, viền nướu ôm sát cổ răng và cân đối với răng 21.

Yêu cầu của ca

Implant ở vị trí răng cửa giữa là ca khó nhất trong phục hình implant đơn lẻ vì mọi sai lệch về hình thể nướu đều lộ ngay khi cười. Ở ca này, bác sĩ đã tạo hình nướu bằng phục hình tạm trong giai đoạn lành thương và gửi labo scan có mang scan body cùng bản scan phục hình tạm. Yêu cầu rõ ràng: phần dưới nướu của abutment phải sao chép đúng profile nướu đã tạo, mức nén mô ở cổ răng đúng 0,5 mm, và mão răng 11 phải khớp răng 21 thật về hình thể, độ trong và màu A2.

Vì sao chọn abutment hybrid và mão zirconia

Abutment hybrid gồm một khối zirconia thiết kế cá nhân dán lên Ti-base của hãng implant. Giải pháp này cho phép labo tự do tạo hình phần xuyên nướu theo profile đã có, đồng thời có màu răng thay vì ánh xám kim loại dưới nướu mỏng ở vùng răng trước. Mão zirconia rời được gắn xi măng lên abutment ngoài miệng (hoặc trong miệng tuỳ bác sĩ), nên đường viền xi măng nằm ở vị trí kiểm soát được và bác sĩ vẫn tháo được cả cụm qua lỗ vít.

Phôi 3M Lava đa lớp được chọn vì cần đủ độ đục để che Ti-base và ống vít, nhưng vẫn giữ độ trong ở phần ba rìa cắn để hoà với răng 21. Xem thêm cách chọn phôi trong bài zirconia 3Y-TZP và 5Y-PSZ khác nhau ở đâu.

Quy trình tại labo

  1. Ghép dữ liệu số. Scan có scan body, scan phục hình tạm và scan hàm đối được ghép trong phần mềm để lấy đúng vị trí implant và đường viền nướu hiện có.
  2. Thiết kế abutment. Phần xuyên nướu sao chép hình thể phục hình tạm rồi mở rộng đều 0,5 mm ở vùng cổ theo chỉ định để nén mô nhẹ, tạo viền nướu ôm khít khi gắn. Trục ống vít được kiểm tra để thoát ra mặt trong, không ảnh hưởng mặt ngoài.
  3. Thiết kế mão. Hình thể răng 11 được dựng đối xứng với răng 21 thật về chiều rộng, đường viền và độ nhô, có điều chỉnh nhỏ để hai răng không giống nhau tuyệt đối.
  4. Sản xuất và kiểm tra. Phay abutment và mão từ phôi Lava, thiêu kết, dán khối zirconia lên Ti-base, lên màu và đánh bóng. Kiểm tra trên mẫu có nướu giả tháo rời để xem đường thoát nướu, kiểm tra khớp cắn và điểm tiếp xúc.

Kết quả

Ảnh sau gắn cho thấy viền nướu răng 11 nằm ngang mức răng 21, gai nướu hai bên đầy, không có tam giác đen, và không thấy ánh xám ở cổ răng. Hình thể, độ trong rìa cắn và màu A2 hoà với răng cửa bên cạnh. Ảnh trong miệng khi lắp abutment cho thấy mô mềm ôm sát phần xuyên nướu mà không trắng bệch, tức mức nén 0,5 mm là phù hợp.

Bài học cho ca tương tự

  • Gửi scan phục hình tạm cùng scan có scan body. Không có profile nướu đã tạo, labo chỉ có thể thiết kế phần xuyên nướu theo hình học mặc định và kết quả nướu rất khó đoán.
  • Ghi rõ mức nén nướu mong muốn (0,3, 0,5 hay 0,8 mm) thay vì “vừa khít”, vì mỗi bác sĩ có thói quen khác nhau và labo không nên tự quyết.
  • Chụp ảnh răng kế cận có bảng màu để labo chọn phôi đa lớp đúng độ đục và tái tạo vân men của răng 21 lên răng 11.

Xem thêm các loại phục hình trên implant tại labo hoặc gửi ca qua hotline 0902 945 585.

Case study: phục hình toàn hàm zirconia Aidite 3D Pro trên thanh titan iBar CAD/CAM

Full-arch zirconia overlay on a CAD/CAM iBar, Aidite 3D Pro, frontal view with pink gingival ceramics

Ca thực hiện tại Khai Nguyên Dental Lab theo chỉ định của bác sĩ điều trị. Ảnh do labo chụp và đã công bố trên Instagram @khainguyendentallab ngày 29/05/2025; bài viết không chứa thông tin định danh bệnh nhân. Nội dung dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên.

Thông tin ca

Loại phục hình Phục hình toàn hàm cố định trên implant: lớp phủ zirconia toàn hàm (full overlay) trên thanh iBar titan phay CAD/CAM
Vật liệu Zirconia Aidite 3D Pro (đa lớp) trên thanh titan; sứ nướu hồng
Điểm kỹ thuật Độ khít giữa lớp phủ zirconia và thanh bar; phân lớp màu và tạo cấu trúc bề mặt để có độ trong tự nhiên
Sản phẩm liên quan Phục hình toàn hàm zirconia dán trên thanh bar
Nguồn ảnh Instagram @khainguyendentallab, 29/05/2025

Ảnh trên: mặt trước của phục hình toàn hàm, răng zirconia đa lớp với nướu sứ hồng có gai nướu và độ chuyển màu.

Yêu cầu của ca

Bệnh nhân mất răng toàn hàm và đã đặt implant. Bác sĩ chọn giải pháp thanh bar titan phay CAD/CAM bắt vít lên implant, và một lớp phủ zirconia toàn hàm dán lên thanh bar. So với cầu zirconia nguyên khối bắt vít trực tiếp, cấu trúc này tách chức năng chịu lực (thanh titan) khỏi chức năng thẩm mỹ (lớp zirconia), giảm nguy cơ gãy zirconia tại vùng lỗ vít và cho phép thay lớp phủ về sau mà không đụng tới bar. Yêu cầu của bác sĩ: khít thụ động trên các implant, răng có giải phẫu riêng và độ trong tự nhiên, nướu sứ có hình thể thật.

Những gì labo phải kiểm soát

Với hệ bar và lớp phủ, có hai lần “khít” phải đúng: thanh bar phải khít thụ động trên implant, và lớp phủ zirconia phải khít trên bar để lớp xi măng dán mỏng, đều. Cả hai đều được thiết kế trong cùng một file: labo dựng răng ở vị trí thẩm mỹ trước, rồi rút gọn về hình thanh bar bên trong sao cho bar đỡ được toàn bộ răng mà không lộ ra ở vùng nướu mỏng. Bar được phay từ phôi titan, lớp phủ được phay từ phôi zirconia đa lớp Aidite 3D Pro để phần cổ đục và phần rìa cắn trong hơn ngay từ phôi.

Quy trình tại labo

  1. Xác minh mẫu. Kiểm tra vị trí implant trên mẫu bằng khoá xác minh (verification jig) trước khi thiết kế, vì mọi sai số ở bước này sẽ thành sai số khít của bar.
  2. Thiết kế răng và bar cùng lúc. Sắp răng theo kích thước dọc, đường giữa, độ nâng môi từ khoá cắn và ảnh khuôn mặt; thiết kế bar bên trong với độ dày tối thiểu cho lớp phủ.
  3. Phay và thử bar. Phay bar titan, thử khít thụ động trên mẫu bằng thử một vít; phay lớp phủ zirconia và thiêu kết.
  4. Hoàn thiện thẩm mỹ. Lên màu phân lớp cho răng, tạo cấu trúc bề mặt, đắp sứ nướu nhiều tông hồng và tạo gai nướu; nướng và đánh bóng.
  5. Dán lớp phủ lên bar theo quy trình của hãng vật liệu dán, làm sạch xi măng dư ở mặt trong và đánh bóng vùng tiếp xúc niêm mạc để dễ vệ sinh.

Kết quả

Ảnh trên mẫu cho thấy lớp phủ zirconia bao kín thanh bar, chỉ lộ bar ở mặt trong nơi có lỗ vít. Răng trước có độ trong ở rìa cắn, răng sau có múi rãnh rõ, nướu sứ có gai nướu đầy và độ chuyển màu tự nhiên. Đường viền giữa zirconia và sứ nướu liên tục, không có bậc.

Bài học cho ca tương tự

  • Luôn gửi khoá xác minh hoặc yêu cầu labo làm khoá để bác sĩ thử trong miệng trước khi phay bar; đây là bước rẻ nhất để tránh làm lại bar titan.
  • Thống nhất trước vị trí lỗ vít và độ dày lớp phủ ở vùng răng trước, vì khoảng cách từ implant đến rìa cắn quyết định lớp phủ có đủ dày để trong hay không.
  • Chọn màu nướu bằng bảng màu nướu ngay từ đầu; với phục hình có nhiều sứ nướu, sửa màu nướu sau khi dán rất khó.

So sánh với ca All-on-X bắt vít trực tiếp trên multi-unit, hoặc gửi ca toàn hàm qua hotline 0902 945 585.

Case study: phục hình toàn hàm All-on-X hai hàm với nướu sứ và giải phẫu răng theo yêu cầu lâm sàng

All-on-X full-arch upper and lower restorations with custom gingival ceramics on the model, Khai Nguyen Dental Lab

Ca thực hiện tại Khai Nguyên Dental Lab theo chỉ định của bác sĩ điều trị. Ảnh do labo chụp trên mẫu và đã công bố trên Instagram @khainguyendentallab ngày 23/06/2026; bài viết không chứa thông tin định danh bệnh nhân. Nội dung dành cho bác sĩ và kỹ thuật viên.

Thông tin ca

Chỉ định Phục hình toàn hàm cố định trên implant (All-on-X) hai hàm
Loại phục hình Cầu toàn hàm bắt vít trên trụ multi-unit, có phần nướu giả bằng sứ hồng
Điểm kỹ thuật Tái tạo chi tiết nướu và giải phẫu răng theo yêu cầu lâm sàng của bác sĩ
Sản phẩm liên quan Phục hình toàn hàm zirconia trên thanh bar, cầu và mão trên implant
Nguồn ảnh Instagram @khainguyendentallab, 23/06/2026

Ảnh trên: Hai cầu toàn hàm trên mẫu với trụ multi-unit lộ ở phía trên và dưới; phần nướu giả có đường viền, gai nướu và độ chuyển màu tự nhiên.

Yêu cầu của ca

Bệnh nhân mất răng toàn bộ hai hàm, được phục hồi bằng implant theo phác đồ All-on-X. Bác sĩ yêu cầu hai cầu toàn hàm cố định với ba điểm nhấn: phần nướu giả phải có hình thể thật (gai nướu, viền cổ răng, độ dày thay đổi giữa vùng răng trước và răng sau), răng có giải phẫu riêng cho từng vị trí thay vì hàng răng đều nhau, và khớp cắn hai hàm được thiết lập cùng lúc vì cả hai đều là phục hình mới.

Những gì labo phải kiểm soát

Với phục hình toàn hàm, ba yếu tố quyết định kết quả là vị trí răng theo thẩm mỹ khuôn mặt, kích thước dọc và độ khít thụ động của khung trên các trụ multi-unit. Labo nhận mẫu, khoá cắn và ảnh khuôn mặt từ bác sĩ, thiết kế răng trên phần mềm để kiểm tra đường giữa, đường cười và mặt phẳng cắn, sau đó mới sản xuất. Khớp thụ động được kiểm tra trên mẫu bằng thử một vít (Sheffield test) trước khi hoàn thiện sứ.

Phần nướu giả thường bị xem nhẹ, nhưng chính nó quyết định phục hình trông thật hay không khi bệnh nhân cười rộng. Kỹ thuật viên đắp sứ nướu theo nhiều lớp màu: hồng đậm ở vùng đáy hành lang, hồng nhạt hơn ở viền cổ răng, xen các điểm sẫm nhẹ mô phỏng mạch máu, và tạo gai nướu đầy giữa các răng trước để tránh tam giác đen.

Quy trình tại labo

  1. Kiểm tra mẫu và trụ. Đối chiếu vị trí các trụ multi-unit trên mẫu với dữ liệu scan, kiểm tra độ song song và khoảng cách để lỗ vít nằm ở mặt nhai hoặc mặt trong.
  2. Thiết kế số hai hàm cùng lúc. Thiết lập kích thước dọc, đường giữa, độ nhô môi, sắp răng theo giải phẫu từng vị trí và kiểm tra hướng dẫn răng nanh.
  3. Sản xuất khung và răng. Phay khung, kiểm tra khớp thụ động, hoàn thiện răng và sứ nướu theo bản đồ màu đã thống nhất với bác sĩ.
  4. Kiểm tra cuối. Thử trên mẫu hai hàm, kiểm tra khớp cắn tĩnh và trượt, đánh bóng vùng tiếp xúc niêm mạc để dễ vệ sinh, chụp ảnh trước khi giao.

Thời gian cho ca toàn hàm được thống nhất theo từng ca, thường gồm một lần thử răng trước khi hoàn thiện. Xem quy trình đặt hàng để chuẩn bị hồ sơ ca implant.

Kết quả

Ảnh trên mẫu cho thấy hai cầu toàn hàm với răng có giải phẫu riêng biệt, độ trong ở rìa cắn răng trước, bề mặt nướu giả có gai nướu đầy và độ chuyển màu tự nhiên từ viền cổ răng xuống đáy hành lang. Các trụ multi-unit lộ ở mặt trong cho thấy khung khít sát trên mẫu.

Bài học cho ca tương tự

  • Gửi ảnh khuôn mặt nhìn thẳng và nghiêng khi cười cùng mẫu, để labo đặt răng theo thẩm mỹ khuôn mặt chứ không chỉ theo sống hàm.
  • Thống nhất màu nướu bằng bảng màu nướu hoặc ảnh nướu thật của bệnh nhân dưới ánh sáng trung tính; màu nướu sai lộ rõ hơn màu răng sai.
  • Dành một lần thử răng. Với phục hình hai hàm mới hoàn toàn, thử răng giúp chốt kích thước dọc và phát âm trước khi hoàn thiện, giảm nguy cơ làm lại toàn bộ.

Đọc thêm máng hướng dẫn phẫu thuật implant: gửi gì cho labo, hoặc liên hệ hotline 0902 945 585.

Máng hướng dẫn phẫu thuật cấy ghép implant: bác sĩ cần gửi gì cho labo và quy trình thiết kế, in 3D

Tóm tắt: máng hướng dẫn phẫu thuật cấy ghép implant (surgical guide) là máng nhựa in 3D được thiết kế từ dữ liệu CBCT ghép với scan trong miệng, có ống dẫn kim loại để định vị mũi khoan đúng vị trí, hướng và chiều sâu đã lập kế hoạch. Bài viết dành cho bác sĩ chuẩn bị gửi ca máng lần đầu: cần gửi gì cho labo, quy trình thiết kế và in, các loại máng, sai số cần biết và cách kiểm tra máng trước khi phẫu thuật.

Khi nào nên dùng máng hướng dẫn

Máng có giá trị nhất khi vị trí implant bị ràng buộc bởi giải phẫu hoặc phục hình: xương hẹp gần ống răng dưới hoặc xoang hàm, vùng thẩm mỹ răng trước cần trục implant khớp với mão tương lai, nhiều implant cần song song để phục hình cầu hoặc All-on-X, và ca bác sĩ muốn phẫu thuật không lật vạt. Với một implant răng sau ở vùng xương rộng, nhiều bác sĩ vẫn khoan tự do; máng lúc này là lựa chọn, không bắt buộc.

Bác sĩ cần gửi gì cho labo

  1. File CBCT định dạng DICOM (thư mục .dcm hoặc file nén), chụp với miệng hơi mở hoặc có gòn cắn để tách hai hàm, không dùng máng cản quang trừ khi ca mất răng toàn bộ.
  2. Scan trong miệng STL/PLY hàm cần cấy và hàm đối diện, kèm khớp cắn. Với hàm mất răng toàn bộ, gửi hàm giả cũ đã chụp CBCT kép (double scan) hoặc scan hàm giả có điểm cản quang. Xem định dạng file và cách xuất từ máy scan.
  3. Phiếu đặt hàng: vị trí răng, hệ thống implant và bộ khoan có hướng dẫn (guided kit) của hãng, đường kính và chiều dài implant dự kiến, loại tựa (răng, niêm mạc hay xương), có muốn wax-up phục hình tương lai không.
  4. Kế hoạch mong muốn: bác sĩ tự lập kế hoạch trên phần mềm và gửi file, hoặc để labo đề xuất kế hoạch để duyệt.

Quy trình tại labo

  1. Ghép dữ liệu: chồng CBCT và scan bằng các điểm chung trên răng. Ca mất răng toàn bộ dùng điểm cản quang trên hàm giả.
  2. Wax-up ảo: dựng mão hoặc cầu tương lai để đặt implant theo phục hình (prosthetically driven). Xem thêm wax-up chẩn đoán.
  3. Lập kế hoạch vị trí implant: trục, chiều sâu, khoảng cách tới ống thần kinh, xoang và chân răng kế cận. Bác sĩ nhận ảnh chụp từng lát cắt và link duyệt.
  4. Thiết kế máng: chọn ống dẫn (sleeve) đúng hãng khoan, thêm cửa sổ kiểm tra độ khít, lỗ tưới nước và chốt neo nếu tựa niêm mạc.
  5. In 3D và hoàn thiện: in bằng nhựa dùng cho máng phẫu thuật, rửa, trùng hợp hậu kỳ, gắn ống dẫn kim loại, kiểm tra trên mẫu in.
  6. Giao máng kèm báo cáo: vị trí implant, ống dẫn, chiều dài mũi khoan cần dùng và khoảng bù (offset) của ống.

Ba loại máng theo điểm tựa

Loại Chỉ định Ưu điểm Hạn chế
Tựa răng Mất một hoặc vài răng, còn răng ổn định hai bên Chính xác nhất, dễ kiểm tra độ khít Cần răng kế cận đủ để ổn định máng
Tựa niêm mạc Mất răng toàn bộ, không lật vạt Phẫu thuật ít xâm lấn Sai số lớn hơn do niêm mạc đàn hồi; cần chốt neo
Tựa xương Mất răng toàn bộ có lật vạt, xương không đều Ổn định trên xương Phải bóc tách rộng

Sai số cần biết

Máng hướng dẫn giảm nhưng không loại bỏ sai lệch. Các tổng quan hệ thống về phẫu thuật có hướng dẫn tĩnh ghi nhận sai lệch trung bình khoảng 1 mm tại điểm vào và lớn hơn ở chóp, cùng sai lệch góc vài độ, với máng tựa răng chính xác hơn máng tựa niêm mạc. Vì vậy kế hoạch nên giữ khoảng an toàn tối thiểu 2 mm tới ống thần kinh và 1,5 mm tới chân răng kế cận. Sai số tích luỹ từ: chất lượng CBCT, độ chính xác ghép dữ liệu, độ khít máng trong miệng, dung sai giữa ống dẫn và mũi khoan, và độ ổn định của máng khi khoan.

Kiểm tra máng trước khi phẫu thuật

  • Thử máng trên mẫu và trong miệng: khít, không bập bênh, cửa sổ kiểm tra thấy tiếp xúc với răng.
  • Đối chiếu ống dẫn với bộ khoan: đường kính ống, chìa khoá (drill key) và chiều dài mũi khoan theo báo cáo của labo.
  • Khử trùng theo hướng dẫn của vật liệu in; không hấp nhiệt độ cao nếu nhựa không cho phép.
  • Chuẩn bị phương án dự phòng: nếu máng không khít trong miệng, chuyển sang khoan tự do với kế hoạch đã có.

Câu hỏi thường gặp

Thời gian làm máng bao lâu?

Thường 3–5 ngày làm việc từ khi labo nhận đủ CBCT, scan và bác sĩ duyệt kế hoạch. Thời gian duyệt kế hoạch là phần bác sĩ chủ động được.

Labo có làm được máng cho mọi hệ thống implant không?

Máng thiết kế theo bộ khoan có hướng dẫn của từng hãng; hãy ghi rõ hệ thống và bộ khoan trong phiếu để labo chọn đúng ống dẫn. Với hệ thống không có bộ khoan có hướng dẫn, labo có thể làm máng định vị mũi khoan mồi (pilot guide).

Có nên làm luôn phục hình tạm tức thì cùng máng?

Có với ca vùng thẩm mỹ và All-on-X: từ cùng kế hoạch, labo có thể làm mão tạm hoặc cầu tạm gắn ngay sau phẫu thuật. Xem cầu, mão trên implantworkshop phục hình toàn hàm trong hai buổi hẹn.

Xem trang dịch vụ máng hướng dẫn phẫu thuật cấy ghép implant hoặc gửi ca qua quy trình đặt hàng, hotline 0902 945 585.

Workshop: Phục hình trên implant toàn hàm trong 2 buổi hẹn

Workshop: Full-Arch Implant Restoration in Two Appointments

Workshop “PHỤC HÌNH TRÊN IMPLANT TOÀN HÀM TRONG 2 BUỔI HẸN”
Thời gian: 10:45 – 11:30 ngày 14/12/2024
Báo cáo viên : BS.CKI Trương Chí Bảo
 
Game tương tác có thưởng tại quầy, với thể lệ đơn giản cùng nhiều phần quà hấp dẫn như:
1-3 đáp án đúng: Nhận ngay 1 móc khóa
4-6 đáp án đúng: Nhận ngay 1 voucher giảm giá 20%
7 đáp án đúng: Nhận ngay 1 quyển lịch cực chất cùng voucher giảm giá 20%
Khai Nguyên hy vọng sự chuẩn bị chỉnh chu này sẽ mang đến cho các BS nhiều trải nghiệm tốt đẹp và bất ngờ tại gian hàng của chúng tôi.
 
 

Tiến bộ mới nhất trong tái sinh xương & mô mềm – phục hình cùng Khai Nguyên Lab

The Latest Advances in Bone & Soft-Tissue Regeneration – With Khai Nguyen Lab

Trong khuôn khổ Hội thảo chuyên sâu “Tiến bộ mới nhất trong tái sinh xương & mô mềm”, diễn ra vào ngày 26–27/2/2025 tại Khoa Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Văn Lang, Khai Nguyên Dental Laboratory rất vinh dự khi được đồng hành cùng các bác sĩ trong quá trình thực hiện phục hình lâm sàng, và đặc biệt là khi các ca lâm sàng có sự tham gia của Lab chúng tôi đã được chọn để đưa vào báo cáo chuyên môn của ThS. BS Phạm Hoài Nam – một trong những diễn giả chính của hội thảo.

Tiến bộ mới nhất trong tái sinh xương & mô mềm – phục hình cùng Khai Nguyên  – Khai Nguyen Dental Lab

Việc được góp mặt trong nội dung báo cáo tại một diễn đàn khoa học uy tín như thế này là niềm tự hào lớn lao đối với đội ngũ kỹ thuật viên của Khai Nguyên. Đây không chỉ là minh chứng cho sự chính xác, thẩm mỹ và tối ưu trong từng phục hình mà chúng tôi mang đến, mà còn là sự ghi nhận đáng quý từ các chuyên gia lâm sàng hàng đầu trong lĩnh vực cấy ghép implant.

Tiến bộ mới nhất trong tái sinh xương & mô mềm – phục hình cùng Khai Nguyên  – Khai Nguyen Dental Lab

Chúng tôi chân thành cảm ơn sự tin tưởng và đồng hành lâu dài của các bác sĩ tại Nha khoa Viễn Đông, cũng như sự tín nhiệm từ quý đối tác, khách hàng trong suốt thời gian qua.

Khai Nguyên Lab cam kết tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ, ứng dụng công nghệ mới, cập nhật quy trình hiện đại để hỗ trợ tốt nhất cho các bác sĩ trong từng ca lâm sàng – góp phần nâng tầm chất lượng điều trị và mang lại nụ cười hoàn hảo cho bệnh nhân.

Implant – Cách lựa chọn abutment tối ưu cho kết quả hoàn hảo

Các loại abutment implant: titan, vàng, zirconia

Loại abutment được sử dụng nên được lựa chọn cẩn thận và sẽ phụ thuộc vào cả loại phục hình và tình trạng nướu lâm sàng. Ví dụ, các abutment tùy chỉnh được khuyến nghị để phục hình gắn xi măng, giúp chống lại xi măng dư. Khi một implant không đúng vị trí và phục hình bắt vít có thể gây ra thách thức về mặt thẩm mỹ, thì abutment chuyển góc là một giải pháp.

1. Custom Abutments

Nếu phương pháp gắn xi măng được chọn, nên chọn một abutment tùy chỉnh thích hợp. Abutment tùy chỉnh lần đầu tiên được đề xuất vào năm 2002 bởi Dumbrigue và cộng sự nhưng gần đây mới trở nên phổ biến và trở thành một tiêu chuẩn. Điều này diễn ra bởi vì các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các kỹ thuật để giảm thiểu việc tạo xi măng thừa trong các phục hình gắn xi măng với ĐHT dưới nướu. Một vấn đề là các viền của abutment stock ở cùng một độ cao mặc dù mô mềm có thể cao hơn ở vùng tiếp giáp giữa các răng, vì vậy người ta đề xuất chế tạo một abutment tùy chỉnh với các viền tuân theo đường viền nướu (Hình 15-1).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Abutment tùy chỉnh làm bằng hợp kim vàng, được gọi là abutment UCLA, là loại abutment đầu tiên trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Chế tạo nó sử dụng kỹ thuật thêm sáp vào sleeve: Một kỹ thuật viên sẽ wax toàn bộ abutment và sau đó đúc nó từ vàng. Titan là vật liệu tiếp theo được sử dụng để chế tạo abutment tùy chỉnh. Tuy nhiên, nếu có thể nhìn thấy viền của abutment titan thì có thể dẫn đến các vấn đề về thẩm mỹ vì các mô quanh implant đôi khi sẽ có màu xám. Bệnh nhân có thể đồng ý sử dụng các abutment này ở vùng răng sau, nhưng không nên sử dụng chúng ở vùng trước.

Di chuyển viền xuống dưới nướu có vẻ như là một giải pháp cho vấn đề thẩm mỹ, nhưng điều này làm tăng khả năng để lại xi măng dư không bị phát hiện. Do đó, abutment zirconia nên được sử dụng để gắn xi măng ở răng trước; Ngoài những lợi ích về mặt thẩm mỹ, loại abutment này có thể tạo ra phản ứng thuận lợi trong các mô (Hình 15-2). Thiết kế và quy trình thích hợp để sử dụng abutment zirconia tùy chỉnh khác nhau đối với các vùng sau và trước.

Vùng răng sau

Ở răng sau, các đường gắn xi măng trên nướu được khuyến khích thực hiện (Hình 15-3). Ngay cả khi di chuyển viền xuống dưới nướu 1 mm cũng đã được chứng minh là có thể dẫn đến dư xi măng, vì vậy cách tốt nhất để tránh rủi ro này là giữ cho viền này cao hơn nướu. Viền cao hơn nướu của abutment zirconia tùy chỉnh cho phép phát hiện và loại bỏ xi măng dư. Zirconia có thể được làm bóng trước khi thiêu kết để phù hợp với phục hồi, vì vậy khả năng nhìn thấy abutment không phải là vấn đề đáng lo ngại (Hình 15-4). Ngoài ra, hình dạng của abutment phải giống với hình dạng của chân răng cần phục hình. Nó không phải là hình tròn, mà giống như hình vuông với các góc tròn, như một chân răng tự nhiên. Trong những tình huống mà thẩm mỹ không phải là vấn đề đáng lo ngại, cũng có thể sử dụng abutment bằng titan tùy chỉnh với viền trên nướu. Chúng có lợi thế là được chế tác từ một mảnh titan duy nhất, trong khi các abutment zirconia truyền thống phải được gắn chặt vào ti-base kim loại (Hình 15-5).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab
1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Vùng răng trước

Ở vùng phía trước, mọi thứ phức tạp hơn. Sẽ dễ dàng hơn nếu chỉ đề xuất thực hành tương tự như đối với vùng răng sau (tức là, ĐHT trên nướu). Tuy nhiên, ngay cả với abutment zirconia, tính thẩm mỹ có thể là vấn đề đáng quan tâm vì sự khác biệt về kết cấu và màu sắc giữa zirconia và sứ veneering. (Lưu ý rằng abutment bằng titan không được xem xét cho trường hợp này.) Do đó, một quy trình phức tạp hơn được chỉ định.

Bước đầu tiên là điều chỉnh các mô mềm quanh implant bằng phục hình tạm. Lấy dấu vị trí implant, và kỹ thuật viên tạo ra một mẫu hàm mà không cần làm sáp nướu. Sau đó, hình dạng của emergence profile mong muốn được tạo ra trên mẫu hàm, và phục hình tạm bằng vít được tạo ra. Nó được đặt trên implant và bắt đầu tạo hình các mô quanh implant (Hình 15-6).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Sau vài tháng, các mô đã sẵn sàng để nhận một abutment zirconia sau cùng. Việc lấy dấu được thực hiện bằng khay mở, trong đó các mô được cố định bằng composite lỏng (Hình 15-7). Khi có một implant duy nhất được đặt sâu, phần lớn nhất của coping lấy dấu được kết nối với implant sẽ nằm dưới các mô quanh implant và có sự tiếp xúc hạn chế với vật liệu lấy dấu. Điều này dẫn đến giảm độ ổn định của coping trong dấu. Đôi khi, nếu implant được định vị ở vị trí dưới nướu, vật liệu ghi dấu gốc silicone có thể được sử dụng để tăng độ ổn định của coping. Implant càng nằm sâu, coping càng ít ổn định.

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Một ti-base có thể được sử dụng để nâng đỡ zirconia theo một concept giống với concept được mô tả cho các phục hình gắn bằng xi măng / vít. Sự khác biệt là các phục hình gắn bằng xi măng / vít được gắn hoàn toàn trên mẫu, trong khi abutment zirconia tùy chỉnh được gắn trên nền titan trên mẫu, và mão được gắn trong miệng.

Thách thức lớn nhất ở răng trước là vị trí viền xi măng. Do hạn chế về mặt thẩm mỹ nên không thể sử dụng đường viền trên nướu sau như ở răng sau. Mặt khác, ĐHT không được dưới nướu hơn 1 mm vì điều này sẽ dẫn đến xi măng không bị phát hiện. Giải pháp là đặt ĐHT trên nướu ở khẩu cái, nơi không bị nhìn thấy, và 0,5 mm dưới nướu ở phía gần và xa. Trong trường hợp này, xi măng vẫn có thể được kiểm soát trong khi ẩn viền xi măng bên dưới nướu (Hình 15-8).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Tuy nhiên, việc tạo viền sâu 0,5 mm nói dễ hơn làm. Dấu thông thường bằng vật liệu silicone tạo ra áp lực lên mô mềm có thể làm biến dạng mẫu; Ngoài ra, độ chính xác của tiện không chính xác đến 0,5 mm. Vì những lý do này, đòi hỏi bác sĩ lâm sàng phải rất chính xác. Khi vị trí của viền mô mềm đã được chuyển sang mẫu bằng kỹ thuật lấy dấu đã mô tả trước đây, một bản sao abutment bằng nhựa hoặc sáp nên được tạo và thử trong miệng bệnh nhân. Sau đó, nếu cần thiết, abutment tiếp theo có thể được điều chỉnh để đảm bảo rằng vai của abutment ở đúng vị trí của nó, sau đó abutment cuối cùng được mài từ abutment bản sao (Hình 15-9 và 15-10).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

Do đó, quy trình chế tạo các abutment riêng lẻ ở vùng răng trước bao gồm các bước sau:

1. Lấy dấu khay mở để ghi dấu mô quanh implant (xem Hình 15-7).

2. Một abutment bản sao bằng nhựa hoặc sáp với các mép nướu được chế tạo trong phòng lab (xem Hình 15-9a).

3. Abutment bản sao được kiểm tra trong miệng để xác định vị trí chính xác của ĐHT. Nếu cần, lề sẽ được điều chỉnh, đảm bảo rằng nó là 0,5 mm dưới nưới ở gần xa và ngoài, trên nướu ở mặt trong (xem Hình 15-9b).

4. Abutment bản sao được sử dụng để tiện abutment zirconia sau cùng (xem Hình 15-9c và 15-9d).

1. Custom Abutments – Khai Nguyen Dental Lab

2. Abutment chuyển góc

Về mặt lịch sử, phục hình gắn xi măng là lựa chọn khả thi duy nhất cho implant răng trước mà đặt không đúng vị trí (Hình 15-11). Trên thực tế, phục hình gắn xi măng được phát triển như một giải pháp cho các vấn đề thẩm mỹ do implant sai vị trí gây ra, vốn thường xuyên xảy ra trước đây. Trong những trường hợp này, lỗ tiếp cận vít abutment sẽ nằm trên cạnh cắn hoặc mặt ngoài, dẫn đến kết quả không thẩm mỹ. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học và lâm sàng chứng minh rằng phục hình gắn xi măng hoạt động kém hơn so với phục hình bắt vít, bác sĩ lâm sàng có thể không muốn sử dụng chúng ngay cả đối với implant răng trước. Điều này đặc biệt đúng đối với những bệnh nhân có bệnh nha chu. Xi măng dư là một yếu tố dễ dẫn đến sự phát triển của bệnh nha chu, và các khuyến nghị hiện tại bao gồm các ĐHT dưới nướu 0,5 mm. Một số giải pháp có sẵn để giải quyết vấn đề này mà không cần sử dụng abutment tùy chỉnh với ĐHT dưới nướu 0,5 mm. Một giải pháp là thay vào đó sử dụng kỹ thuật double-crown, trong đó một cấu trúc nền phục hình được vít giữ lại trong miệng, và phục hình thứ cấp được gắn chặt trên cấu trúc nền (Hình 15-12). Về bản chất, đây là một loại abutment tùy chỉnh với ĐHT trên nướu, như trong hình. Để sử dụng phương pháp này, bệnh nhân phải có đường cười thấp vì đường gắn xi măng giữa abutment và mão răng sẽ lộ rõ. Xi măng vĩnh viễn được dùng để gắn; điều này có nghĩa là nếu phát sinh nhu cầu tháo phục hình, mão thứ cấp sẽ bị phá đi. Mặc dù việc sử dụng xi măng tạm có thể giúp lấy phục hình ra dễ dàng, nhưng nó có nguy cơ bị rã xi măng.

2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab

Các lựa chọn khác là sử dụng một phục hình bắt vít với một abutment được đặt nghiêng lên đến 25 độ (Hình 15-13). Hệ thống abutment góc (hoặc abutment động, tùy thuộc vào nhà sản xuất) là một sửa đổi thú vị và hữu ích cho phép sử dụng vít trong những trường hợp trước đây chỉ có thể giải quyết bằng xi măng. Trên thực tế, thuật ngữ này hơi gây hiểu nhầm vì nó gợi ý rằng abutment bằng cách nào đó có thể di chuyển hoặc có góc, trong khi trên thực tế, vít abutment và driver cho phép chuyển trục vít này đến một vị trí khác. Hệ thống này bao gồm một abutment bằng titan với chiều cao thành trong được hạ xuống và một driver và vít được thiết kế đặc biệt. Vít được thiết kế theo cách có thể xoay dưới góc nghiêng lên đến 25 độ. Đầu của vít có sáu mặt phẳng xiên, cho phép đầu driver siết chặt vít khi đặt nghiêng.

2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab
2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab

Bệnh nhân trong Hình 15-14 đến với tình trạng nha chu nghiêm trọng cần điều trị implant. Kế hoạch điều trị bao gồm điều trị nha chu răng hàm dưới và nhổ toàn bộ răng hàm trên. Một giao thức phân đoạn đã được áp dụng, có nghĩa là tám implant được đặt vào hàm trên để hỗ trợ bốn FDP ba đơn vị riêng biệt.

Một trong những yêu cầu phục hình chính trong loại tình huống này là thực hiện phục hình bằng vít vì nha chu là một yếu tố dễ dẫn đến xi măng dư gây ra bệnh quanh implant. Đối với bệnh nhân nha chu, yêu cầu đầu tiên là phải loại bỏ xi măng sót lại bằng mọi giá để tránh viêm quanh implant. Như đã thảo luận trong chương 12, xi măng dư hoạt động giống như vôi răng, gây kích ứng các mô quanh implant và không thể loại bỏ 100% xi măng dư ngay cả khi sử dụng từng abutment tùy chỉnh.

2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab
2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab
2. Abutment chuyển góc – Khai Nguyen Dental Lab

3. Decision Tree

Decision Tree có thể được sử dụng để chọn loại abutment và phục hình thích hợp cho một tình huống lâm sàng nhất định. Nếu implant được đặt ở vị trí ba chiều (3D) lý tưởng, một phục hình gắn xi măng / vít được chọn (Hình 15-15a và 15-15b). Đây là lựa chọn điều trị đầu tiên phù hợp với triết lý không tiêu xương. Tuy nhiên, nếu implant ở vị trí bị sai trong đó cách tiếp cận bắt vít sẽ ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ hoặc chức năng kém (Hình 15-15c), thì có thể đề xuất hai lựa chọn: (1) sử dụng abutment tùy chỉnh với ĐHT trên nướu ở vùng răng sau (Hình 15-15d) hoặc với ĐHT dưới nướu 0,5 mm ở vùng răng trước (Hình 15-15e) hoặc (2) sử dụng phục hồi bắt vít với vít tiếp cận chuyển góc (Hình 15-15f).

Vít có góc thường được siết với mômen xoắn thấp hơn từ 15 đến 25 Ncm; do đó, nó chỉ nên được sử dụng ở vùng phía trước, không được sử dụng ở vùng phía sau nơi mà chịu nhiều lực hơn.

3. Decision Tree – Khai Nguyen Dental Lab
Fig 15-15 Decision tree for selecting type of abutment and restoration. If the implant is placed in correct 3D position (a), a cement/ screw-retained solution can be used (b). In the anterior zone, correct 3D position means that the screw access hole goes through the palatal aspect in the cingulum region, and malpositioning means the access holes would compromise the esthetics by emerging on the incisal edge or labial aspect. In the posterior zone, access opening should be located at the occlusal center of the restoration; malpositioning means the access holes would be located buccally or on a working cusp. If the implant is malpositioned (c), one option is to use individual
custom abutments; in the posterior region, the margin should be 1 mm supragingival (d), and in the anterior zone, a 0.5-mm subgingival margin is suggested (e), using a plastic or wax replica abutment to precisely place the margin. An abutment with an angulated screw (f) is recommended only in the anterior zone, as the screw cannot be tightened to the recommended 35 Ncm; it usually varies from 15 to 25 Ncm. The angulated screw and screwdriver are manufactured for single use only.

Take-Home Messages

Các abutment tùy chỉnh ở vùng răng sau phải được thiết kế với các ĐHT trên nướu và không có undercut, và zirconia là vật liệu được khuyến nghị.

Ở răng trước, một abutment bản sao bằng nhựa hoặc sáp nên được sử dụng để kiểm tra ĐHT.

Abutment góc có thể cho phép sử dụng phương pháp tiếp cận bằng vít ở răng trước mà không ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ.

Composite quang trùng hợp là vật liệu được khuyến khích sử dụng cùng với việc lấy dấu bằng khay mở để ghi lại và chuyển vị trí của viền nướu trong vùng thẩm mỹ.

Nguồn: Linkevičius, T., Puišys, A., Andrijauskas, R., & Ostrowska-Suliborska, B. (2020). Zero Bone Loss Concepts. Quintessence Publishing Co. Inc.


WhatsApp